Bá Vương Biệt Cơ (1993) Cái Chết Của Kinh Kịch

Góc Nhìn Điện Ảnh

Bài viết của tác giả Lam gửi về 35mm.

Phần 1: Đức Chí, Trình Điệp Y hay Ngu Cơ?

Cậu bé Đức Chí sinh ra trong kỹ viện. Mẹ cậu phải giấu diếm sự tồn tại của cậu, đến khi không thể nữa, bà mang cậu tới gánh hát. Ngay từ đầu, số phận của Đức Chí gần như đã không được thừa nhận, như một sinh linh tồn tại không thân phận. Đức Chí tập luyện trong gánh hát chỉ bởi mong mỏi của mẹ cậu, mong con mình sẽ lớn lên ở một môi trường khác với kĩ viện vốn bị người đời khinh miệt. Ác nghiệt thay, với quan niệm phong kiến, diễn viên và gái lầu xanh cũng bị khinh thường như nhau. Câu nói của vị sư phụ như một điềm báo vận vào cuộc đời Đức Chí, khi tới một lúc, cậu phải chấp nhận hy sinh phẩm giá để cứu sư ca của mình.

Để được ở lại gánh hát, mẹ cậu đã phải cắt đi một ngón tay thừa của con mình. Chi tiết này một lần nữa báo hiệu cho sự khắc nghiệt đang chờ Đức Chí phía trước. Đỉnh điểm của việc xóa bỏ hoàn toàn sự tồn tại của con người Đức Chí, chính là khi cậu buộc phải từ bỏ bản ngã của mình, học thuộc lòng câu hát, ép mình vào chiếc áo của Ngu Cơ của những vai nữ nhân trên sân khấu – “Bản chất ta là nữ, không phải nam”. Chối bỏ bản ngã không phải là điều dễ dàng. Dù mới chỉ là một đứa bé, ý thức mạnh mẽ về bản thân đã khiến Đức Chí cứ hát sai câu hát thành “Bản chất ta là nam, không phải nữ”. Điều đó đồng nghĩa với những hình phạt tàn khốc. Chỉ tới lần thứ 3, khi Sĩ Tứ nổi giận và trừng phạt cậu bằng tẩu thuốc, bản chất nam bên trong Đức Chí mới “mất”, nhường chỗ cho hình bóng nữ nhân của Ngu Cơ, của Lâm Đại Ngọc. Đó cũng là khoảnh khắc ra đời thực sự của Trình Điệp Y.

Khác với Tiểu Lâu, được đo ni đóng giày cho vai Bá Vương, và tự mình cũng chấp nhận việc đó, Điệp Y ngay từ đầu không cảm thấy bị thu hút bởi Kinh kịch hay yêu thích vai diễn Ngu Cơ. Tình yêu Kinh kịch trong anh ta chỉ bắt đầu và tồn tại mãnh liệt tới mức ám ảnh cả cuộc sống của Điệp Y, là khi cậu bé Đức Chí nhìn thấy không khí của sàn diễn, nhìn thấy Ngu Cơ, nhìn thấy Hạng Võ. Cậu bé Đức Chí đã muốn mình thành Ngu Cơ, đã yêu Kinh kịch từ giọt nước mắt rơi xuống khi ấy.

Suốt hai mươi năm tập luyện và đóng vai Ngu Cơ, Điệp Y coi mình là Ngu Cơ, coi sư ca là Bá Vương. Điều này ám lên toàn bộ cuộc đời của Điệp Y, làm anh ta không nhận ra đâu là đời thật, đâu là sân khấu. Nhưng tôi không cho rằng Điệp Y mù quáng, chỉ là vào khoảnh khắc giọt nước mắt của cậu bé Đức Chí rơi xuống, Kinh kịch đã là cuộc đời của cậu. “Mỗi người chịu trách nhiệm về số phận của mình”, câu nói của Na đại nhân cũng là dành cho Điệp Y, anh ta đã quyết định mình sẽ là Ngu Cơ cho tới cuối đời, và hoàn toàn chịu trách nhiệm với quyết định đó, chứ không chỉ là do sự ép buộc ban đầu của các vị sư phụ.

Điệp Y, hay Ngu Cơ, hay bóng hình nữ nhân trên sân khấu, tựu chung lại, đay là một nghệ sĩ chân chính. Người nghệ sĩ này không chấp nhận sản phẩm kì quái mang tên Kinh kịch Cách mạng, vì với anh ta “Mỗi âm thanh là một bài hát, mỗi cử chỉ là một điệu múa. Tất cả đều phải đẹp”. Có thể là cực đoan, nhưng mỗi loại hình nghệ thuật được thể hiện bằng một ngôn ngữ khu biệt riêng, nếu muốn hiện thực, sẽ có những loại hình khác phù hợp hơn, còn Kinh kịch, sẽ chỉ hợp với những tuồng tích cổ xưa bi tráng, những nhân vật của trong lịch sử và truyền thuyết.

Đó còn là một người nghệ sĩ trung thực, dù có căm ghét người Nhật, thì cũng kiên quyết nói sự thật rằng họ vô cùng tôn trọng nghệ thuật và nghệ sĩ. Dù đó là Điệp Y, hay Đức Chí, hay Ngu Cơ, ta có thể khẳng định đó là một nghệ sĩ chân chính, với tình yêu vĩ đại dành cho Kinh kịch.

Phần 2: Thiếu 2 bước thì không thành Bá Vương

Hình ảnh Sở Bá Vương Hạng Vũ trong lòng của Ngu Cơ – Trình Điệp Y được hình thành từ ngày bé, ngay khi cậu bé Đức Chí chứng kiến Sĩ Tứ đập gạch vào đầu để bảo vệ sư phụ và đồng môn. Hình tượng đó lại càng lớn dần khi Sĩ Tứ luôn bảo vệ Đức Chí trước sự hiếp đáp của các sư huynh đệ, trước đòn roi của sư phụ. Ngay từ lúc đó, Đức Chí – Trình Điệp Y đã không coi Sĩ Tứ – Đoàn Tiểu Lâu đơn thuần là sư ca, là một một diễn viên kinh kịch, mà trong lòng Điệp Y, Tiểu Lâu chính là Hạng Vũ.

Thế nhưng, kẻ luôn bước thiếu 2 bước khi đóng vai Bá Vương, thì có thể nào là Bá Vương Hạng Vũ uy trùm thiên hạ được? Viên Sĩ Quần đã nhận ra điều này từ rất sớm khi ở lần gặp đầu tiên đã hỏi Đoàn Tiểu Lâu “Khi Sở Vương về gặp ái nương , ngài phải đi 7 bước, nhưng cậu lại chỉ bước có 5 bước. Nếu Sở Vương không có được uy nghi của Hoàng đế, trông người sẽ chỉ như một tên cướp”. Sự sụp đổ bá Bá Vương – Đoạn Tiểu Lâu không phải chỉ đợi tới cuối phim, nó là một quá trình dài, và hình ảnh Bá Vương quỳ xin tha mạng ở cuối phim chỉ là để cho Ngu Cơ – ở đây là Điệp Y và Cúc Tiên, nhận ra niềm tin của mình đã trao nhầm chỗ. Bước đầu tiên của sự sụp đổ của Bá Vương – Tiểu Lâu bắt đầu khi anh ta tới gặp Viên Sĩ Quần để nhờ cứu Điệp Y. Nếu là một đấng trượng phu đội trời đạp đất, anh ta sẽ phải nói chuyện sòng phẳng và ngang ngửa với Viên Sĩ Quần, tiếc thay, người làm được điều đó lại là Cúc Tiên. Lần thứ 2, là khi nói với các Hồng vệ binh về kinh kịch thật sự là gì, khi mà Trình Điệp Y kiên quyết bảo vệ những chuẩn mực của Kinh Kịch, Tiểu LÂu lại e ngại né tránh. Tiếp theo đó, khi tòa án nhân dân đưa Viên Sĩ Quần ra đấu tố, Tiểu Lâu cũng nghe lời Cúc Tiên, chấp nhận làm theo số đông. Tất nhiên, ta không trách Tiểu Lâu trong 2 tình huống vừa nêu, vì với sức mạnh của quân đội và tòa án nhân dân khi ấy, không dễ gì có thể đi ngược lại ý kiến của họ . Nhưng 2 chi tiết đó lại lờ mờ cho ta thấy rằng, hình như Tiểu Lâu không chỉ thiếu 2 bước chân, và chiếc áo của Bá Vương dường như ngày càng rộng đối với người đàn ông này.

“Đó chỉ là một vở tuồng thôi mà” – câu nói của Tiểu Lâu với Điệp Y khi cố gắng thuyết phục sư đệ của mình hãy chấp nhận thời cuộc, hãy chấp nhận diễn những vở tuồng về các vấn đề thời sự. Đây rõ ràng không phải lời một người xem Kinh kịch là cuộc đời có thể thốt ra được. Ta lại nhớ tới tình tiết trước đó, Tiểu Lâu bỏ nghề diễn theo yêu cầu của Cúc Tiên, rồi khi không thể làm gì khác để mưu sinh, Tiểu Lâu nổi giận với chính mình và với Cúc Tiên, rằng “Ngoài đi diễn ra thì anh chẳng biết làm gì khác”. Ta có cảm giác, Tiêu Lâu chỉ cần có một sự tác động nhỏ cũng có thể bỏ Kinh kịch, và ta tự hỏi, nếu như có thể làm công việc gì khác, thì Tiểu Lâu có quay lại với nghề diễn? Nói vậy để thấy rằng, không khó để 2 nàng Ngu Cơ – Điệp Y và Cúc Tiên nhận ra, Tiểu Lâu không phải là Bá Vương, không có cái uy nghi dũng khí như Bá Vương.

Cảnh đấu tố chỉ là bước cuối cùng để Điệp Y nhận ra sự thật, còn Cúc Tiên cũng thấy đấng trượng phu không oai phong lẫm liệt như mình nghĩ. Hình bóng Bá Vương chỉ tồn tại trên Sân khấu, khi cởi áo mũ ra, Tiểu Lâu vẫn chỉ là một con người bình thường, sợ chết và sợ uy quyền. Ta không trách Tiểu Lâu hèn mạt, ta chỉ nhận ra rằng Bá Vương không có trên đời, Kinh kịch cũng tới hồi cáo chung vậy thì, phải chăng, Ngu Cơ cũng phải chết?

Phần 3: “Tại sao ái thiếp lại phải chết?”

Điệp Y đã hỏi Tiểu Lâu như vậy, khi Tiểu Lâu cố thuyết phục anh ta rằng, chuyện giữa Bá Vương và Ngu Cơ chỉ là một vở tuồng. Trong vở diễn, Ngu Cơ phải chết, và ngoài đời thực, Ngu Cơ lại càng phải chết.

Ngu Cơ không chỉ là Điệp Y tài hoa, Ngu Cơ còn là Cúc Tiên thông minh sắc sảo. Họ chẳng ưa gì nhau, nhưng họ là một. Cúc Tiên, như một người mẹ, ôm lấy Điệp Y trong cơn đói thuốc. Cũng là Cúc Tiên, cảm thông cho Điệp Y khi vai diễn cuộc đời anh bị chính đứa học trò lấy mất. Và cũng là Điệp Y, khóc cho Cúc Tiên khi cô bị sự hèn mạt của người đàn ông cô yêu giết chết. Cúc Tiên nhận ra, đấng trượng phu của mình tham sống tới tội nghiệp, Điệp Y cũng nhận ra rằng, Bá Vương chưa khi nào tồn tại. Hai nàng Ngu Cơ đó không thể sống trong một xã hội mà tất cả những gì đẹp nhất, uy dũng nhất đều bị đánh đổ, thế nên Ngu Cơ phải chết cũng là lẽ tất nhiên.

Phần 4: Cái chết của Kinh Kịch

“Cả Sở Bá Vương cũng quỳ gối xin tha mạng, tuồng cổ Bắc Kinh sao có thể chịu được nỗi ô nhục này!” – Trình Điệp Y đã phải thốt lên khi chứng kiến sự phản bội của Sở Bá Vương – Trình Tiểu Lâu. Đó không chỉ là sự phản bội với riêng Điệp Y hay Cúc Tiên, đó là sự phản bội mấy ngàn năm văn hóa của thời kì Cách mạng văn hóa.

Chế độ phong kiến Trung Hoa vốn nổi tiếng với sự hà khắc, tàn bạo với thân phận con người. Nhưng đó cũng là cái nôi sinh ra nhiều tư tưởng văn học nghệ thuật đẹp đẽ. Kinh kịch là một trong số đó. Được sản sinh và phát triển trong suốt lịch sử phong kiến Trung Hoa, Kinh kịch không chỉ là sản phẩm giải trí của giới thống trị, đó còn là máu, là mồ hôi của người nghệ sĩ – những người cũng bị xem thường ngang ngửa với gái lầu xanh. Bằng Kinh kịch, người nghệ sĩ gởi gắm vào đó những giá trị đạo lý. Đó chính là điều giúp kinh kịch tồn tại và sống trong lòng dân chúng suốt thời phong kiến. Sang tới thời Nhật chiếm đóng, rồi thời dân quốc, cho dù trải qua nhiều thăng trầm, Kinh kịch vẫn giữ được những giá trị cốt lõi của mình. Nhưng đến thời Cách mạng văn hóa, Kinh kịch bị biến thành sản phẩm tuyên truyền, hình thức thể hiện cũng biến dị với những cảnh trí và phục trang như đời thường, nội dung về ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi cách mạng. Cái chết của Trình Điệp Y, chính là cái chết của Kinh kịch của thời kì lịch sử tàn khốc đó của dân tộc Trung Hoa.

 

 

 

Quên mật khẩu

Đăng Ký