Birdman (2014) Sàn Kịch Hư Ảo Của Danh Vọng

Bình Luận Phim Phim Đương Đại Phim Xuất Sắc

Kể từ sau Synecdoche, New York (Cải dung, New York, 2008) của Charlie Kaufman, mới có một bộ phim trộn lẫn hai thế giới điện ảnh và kịch nghệ một cách hoàn hảo như Birdman (Người chim), phim vừa giành tượng Oscar “Phim hay nhất” 2015. Một hành trình huyễn hoặc về thị giác, chân thật về tình cảm, khắc họa và tôn vinh những con người phải sống nhiều cuộc đời mà quên đi cuộc đời chính họ: là diễn viên.

“Tôi có thể giả tạo ở bất kỳ nơi đâu, nhưng không phải trên sân khấu”, nhân vật Mike của Edward Norton nói trong một cảnh phim. Anh ta là một tên khốn ưa sinh sự và khó nhằn, sẵn sàng phá hỏng buổi diễn thử và chửi bới mọi người trong đoàn kịch, nhưng luôn đặt hết lòng vào vai diễn. Mike uống rượu thật trên sân khấu, và trong một cảnh ái ân, anh ta đã định “làm một nháy” với cô bạn diễn, khiến cô tổn thương.

Mike là một trong những hình tượng nổi bật trong Birdman, khắc họa thế giới những diễn viên và vấn đề của họ. Anh ta chỉ sống thật được khi là một người khác. Còn Riggan (Micheal Keaton), người đã thuê Mike vào vở kịch thì gặp phải khó khăn khác. Ông bị ám ảnh bởi một vai diễn cũ, Birdman, vai diễn mang đến vinh quang và danh tiếng cho ông trong quá khứ, và trở thành cái bóng đè nặng. Người ta chỉ nhớ ông là Birdman, khiến ông không thể có thêm vai diễn ấn tượng nào khác. Ở tuổi xế chiều, Riggan dốc hết tiền tài và sức lực vào vở kịch cuối cùng, mong rằng nó sẽ thành công và đưa ông lại đỉnh cao.

Đạo diễn người Mexico Alejandro González Inárritu, có thể nói, đã làm được một điều phi thường, khi truyền tải hành trình thực hiện vở kịch ấy thành một “vở kịch” khác trên màn ảnh rộng. Birdman là một bộ phim không cắt cảnh về mặt thị giác. Nghĩa là người xem được thấy các nhân vật hành động và đối thoại liên tục với góc quay di động trong suốt 2 giờ đồng hồ. Về mặt nội dung, bộ phim lại là nhiều tầng lớp đan xen, phim trong phim, kịch trong kịch (phim giống như một vở kịch, nói về những diễn viên đang thực hiện một vở kịch) tạo nên cảm giác hư ảo không thật. Phim có một nhịp độ ngẫu hứng, phá cách, với những cảnh trao đổi và di chuyển liên miên không dứt, đi từ phân cảnh này (stage) sang phân cảnh khác. Điều này khó khăn đến mức tay máy kỳ cựu Emmanuel Lubezki, người từng đạt Oscar quay phim cho Gravity (Cuộc chiến không trọng lượng, 2013) của Alfonso Cuaron, cũng định từ chối khi nghe Alejandro miêu tả cách quay. “Birdman có tất cả các yếu tố mà tôi hoàn toàn không muốn làm – tính hài hước, quay ở Studio và những cảnh quay dài”. May mà ông đã đồng ý.

Sự huyễn hoặc của phim còn đến từ góc nhìn đa nhân cách của Riggan. Cảnh đầu tiên, là một cảnh siêu thực, khi Riggan trong tư thế ngồi thiền lơ lửng giữa không trung. Một giọng nói vang lên trong đầu ông, là giọng của Birdman, thì thầm vào tai ông và khiến ông tức giận. Trong phim, không hề báo trước, Alejandro chuyển đổi đột ngột giữa sự thật và tưởng tượng theo cách đầy ám ảnh. Như khi Birdman xuất hiện và bay phía sau Riggan, và sau đó đến lượt ông bay lên bầu trời. Hay khi ông dùng “siêu năng lực” đập phá đồ đạc. Những cảnh phim vừa hùng vĩ vừa điên loạn, lại vô cùng ấn tượng, đưa người xem vào tâm tưởng của một bệnh nhân tâm thần.

Đó là dụng ý của Alejandro. Trở thành diễn viên, chấp nhận sống nhiều cuộc đời, trở thành nhiều nhân cách, là một dạng của bệnh tâm thần. Birdman được vinh danh trong một năm mà, những bi kịch liên tiếp xảy ra với các diễn viên tên tuổi. Ngoại trừ Paul Walker qua đời trong một tai nạn xe hơi, một kiểu “sinh nghề tử nghiệp” khi anh là ngôi sao loạt phim đua xe Fast and Furious (Quá nhanh, quá nguy hiểm), thì những người còn lại, như Robin Williams và Phillips Seymour Hoffman, đều mất vì hậu quả trầm cảm từ diễn xuất. Danh hài Williams tự tử ở nhà riêng, sau những tháng ngày “thức giấc và thấy mình vô nghĩa”, trong khi Hoffman qua đời do sốc thuốc phiện. Thành công trong sự nghiệp (cả hai đều từng đạt Oscar diễn xuất) phải đánh đổi bằng sự thất lạc bản ngã trong cuộc sống thật, và là căn bệnh rất nhiều diễn viên mắc phải. Đó là điều ít được biết đến về các ngôi sao Hollywood, những người thường tạo ra sự ghen tỵ với tiền bạc, danh vọng và cuộc sống vương giả, hơn là cảm thông và thấu hiểu.

Alejandro truyền tải sự cảm thông và thấu hiểu đó, bằng sự chân thực. Michael Keaton dường như không phải diễn, hay đang diễn lại chính mình trong Birdman. Vai “Người chim” chỉ là cách nói khác đi của vai “Người dơi” (Batman) trong 2 phim Batman (1989) và Batman Return (Người dơi trở lại, 1992), đã làm nên tên tuổi Keaton, và sau đó nhấn chìm ông. Edward Norton, được biết đến như diễn viên “sống” cùng vai diễn, thể hiện chính điều đó trên màn ảnh. Một diễn viên tài năng khác là Naomi Watts, được gợi nhớ lại giây phút đầu tiên được lên sân khấu, “một ký ức đã lâu, rất lâu rồi”, cô nói. Nhưng là những ký ức còn nóng bỏng, bởi Naomi là trường hợp nữ diễn viên hiếm hoi thành công ở tuổi trung niên, sau nhiều tháng năm nỗ lực không ngừng. Phim là tâm sự của những diễn viên về cuộc chiến của họ với danh vọng, với sự lạc lối, nỗi cô đơn, sự tách biệt của họ với người khác, và nỗ lực tuyệt vọng của họ để giành lấy sự công nhận và yêu thương.

Birdman có những trường đoạn cực kỳ xúc động, sự xúc động vừa đến từ độ sâu sắc của tâm lý, và đến từ khả năng diễn xuất đỉnh cao của dàn diễn viên nội lực. Lối thể hiện theo phong cách kịch nghệ mang đến một nền tảng vững chắc để các diễn viên đẩy lên cao trào, mà không sợ mất thăng bằng. Như Emma Stone, nhận về đề cử Oscar chỉ bằng một cảnh duy nhất, khi cô hét vào mặt ông bố Riggan rằng “bố không là ai cả!”. Sự chân thực về diễn xuất mà Birdman mang lại, không phải kiểu “tự nhiên như thở” của Richard Linklater. Nó không hề tự nhiên, mà đầy tính thể hiện, người ta biết đó là diễn, nhưng nó hòa quyện vào không gian đặc trưng của phim, và chạm đến cảm quan nghệ thuật ở mức cao nhất. Xem Birdman là một trải nghiệm điện ảnh tinh khiết, chỉ có được ở một cấp độ làm phim đặc biệt chỉ xuất hiện một lần trong sự nghiệp của những đạo diễn hàng đầu.

Tôi nghĩ, Birdman giành được Oscar không chỉ ở chất lượng, mà còn ở những đóng góp và đột phá trong nghệ thuật làm phim. Tôi chưa từng thấy một phim nào sử dụng nhạc nền gần như bằng tiếng trống (một vài cảnh có tiếng nhạc, nhưng không đáng kể), được soạn bởi tay trống Atonio Sanchez. Anh đã cực kỳ lo sợ khi nhận được đề nghị, vì chưa bao giờ soạn nhạc cho phim. Dù vậy, Atonio đã hoàn thành xuất sắc phần việc của mình, và mang đến không khí riêng biệt. Tiếng trống không chỉ tạo ra không gian kịch nghệ, hơi thở của kịch nghệ, tạo ra một sân khấu “ảo” trong tâm trí người xem, mà còn mang tính định hướng và dẫn dắt nhịp độ, một sự sáng tạo chưa từng có trước đây. Điều đáng nói là ở một phim tranh giải Oscar khác Whiplash (Khát vọng nhịp điệu), trống cũng được đề cao. 2014 có lẽ là một năm huy hoàng cho nhạc cụ này trên màn ảnh.

Cả Lubezki và Sanchez, cùng với Alejandro đã tự vượt qua những giới hạn của chính mình, và được tưởng thưởng xứng đáng. Đó là điều đáng mừng, nhất là trong một năm Hollywood thất bát cả về tiền bạc (có tổng doanh thu thấp nhất trong 5 năm trở lại đây) và cả số lượng phim chất lượng làm ra. Thì các tác phẩm Hàn lâm vẫn rất xuất sắc, vẫn đầy sự nỗ lực và mở ra những ranh giới mới cho điện ảnh, lấy lại sự cân bằng trong cuộc chiến với truyền hình đang rõ dần lên trong những năm tới. Và đáng mừng hơn, Birdman đã hoàn thành nhiệm vụ mà Riggan đặt ra trong phim: đưa thế hệ diễn viên cũ như Keaton, Norton hay Watts trở lại sau nhiều năm vắng bóng, và chứng tỏ tài năng không hề mai một của họ.

Vở kịch đã thành công.

Tổng kết

Dân dắt người xem vào một sân khấu kịch, và làm đầy họ bằng cả ấn tượng thị giác lấn trái tim.
10

Hoàn Hảo

Quên mật khẩu

Đăng Ký