Điện ảnh Phillipines: Từ khủng hoảng đến vinh quang

Góc Nhìn Điện Ảnh Thế Giới Điện Ảnh

Sau Thái Lan, Capuchia, nền điện ảnh Đông Nam Á kế tiếp được quốc tế vinh danh là Philippines. Bộ phim dài 4 giờ The Woman Who Left (Người đàn bà bỏ lại) của đạo diễn Lav Diaz vừa giành giải cao nhất Sư Tử Vàng tại liên hoan phim (LHP) Venice 2016.

“Cảm động, tinh tế với những cảnh quay Manila đượm buồn…” là những lời trang Hollywood Reporter dành cho The Woman Who Left. Lấy cảm hứng từ truyện ngắn God See the Truth, But Waits (Chúa biết sự thật, nhưng luôn chờ) của Leo Tolstoy năm 1872, phim được quay theo phong cách giả tài liệu đen trắng, kể về cuộc trả thù của một phụ nữ sau 30 năm bị tù oan. Nhưng chủ đề thực sự là hiện thực đói nghèo và những thay đổi của xã hội Phillipines sau nhiều biến động chính trị. Trong lời phát biểu nhận giải, Diaz nói rằng đây là giải thưởng dành cho “cuộc đấu tranh nhân quyền của chúng tôi”.

Đạo diễn Lav Diaz trên bục nhận giải

Đạo diễn Lav Diaz trên bục nhận giải

The Woman Who Left là một mảnh ghép trong năm 2016 đại thành công của điện ảnh xứ đảo quốc. Hồi tháng 5, diễn viên Jaclyn Jose bất ngờ thắng giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Cannes, với phim Ma’ Rosa (Mẹ Rosa). Trước đó vào tháng 2, bộ phim A Lullaby to the Sorrowful Mystery (Điệu ru đến bí ẩn muộn phiền) cũng của Lav Diaz, thắng giải Gấu Bạc tại LHP Berlin. Đây là phim lập kỉ lục có thời lượng dài nhất từng thắng giải tại Berlin, đến 8 giờ rưỡi. Nhưng không có gì lạ, bởi làm phim dài là “truyền thống” của đạo diễn Diaz, 57 tuổi. Phim dài nhất của ông là Evolution of a Filipino Family (Lịch sử một gia đình), gần 10 giờ đồng hồ.

Đây là lần đầu tiên Phillipines dành giải thưởng cao nhất tại một LHP quốc tế. Khá trùng hợp là Venice, LHP lâu đời nhất thế giới, từng đánh dấu lần đầu điện ảnh nước này bước ra ngoài biên giới. Đó là năm 1952 với phim Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn) của đạo diễn Manuel Conde – thời kì được xem là “kỉ nguyên vàng” đầu tiên của phim ảnh Phillipines, với các bộ phim về người hùng chiến tranh. Sau người Mỹ, đến lượt Nhật Bản tiến vào nắm quyền ở Phillipines. Họ hiểu được sức mạnh nghệ thuật thứ bảy, và sắt đá dựng nên một nền phim tuyên truyền nặng nề. Điều này vừa có hại, vừa có lợi. Khi Nhật rút đi, các nhà làm phim bản địa đã vùng lên mạnh mẽ. Lạ lùng là, những đề tài mà người Nhật cố áp đặt trước đó, như phim chiến trận và thần thánh hóa vai trò cá nhân, lại được yêu thích trở lại. Tất nhiên, nhân vật chính là người bản địa. Những năm 50 là giai đoạn phồn thịnh của ngành phim Phillipines, với sự ra đời của “tứ đại gia” là bốn hãng phim Sampaguita, LVN, Premiere và Lebran. Mỗi hãng đều có dàn đạo diễn, diễn viên, kĩ thuật viên riêng và sản xuất đến hơn 350 phim mỗi năm. Năng suất cực kì đáng nể.

Cảnh phim The Woman Who Left

Cảnh phim The Woman Who Left

Có thể nói, thành tích của đạo diễn Diaz là “quả ngọt”, đánh dấu thành công của điện ảnh Phillipines sau cuộc cải cách bắt đầu đầu thế kỉ 20. Ít ai biết đây là một trong những nền điện ảnh lâu đời nhất thế giới, nhưng bị chiến tranh và chế độ độc tài kìm kẹp dẫn đến lạc lối. Những phim đầu tiên trình chiếu ở đây là vào năm 1897, giai đoạn Phillipines chịu sự đô hộ của Tây Ban Nha. Các thương nhân Thụy Sĩ đã nhập vào hòng kiếm chác ở người dân bản xứ, tuy nhiên, không thành công do khác biệt văn hóa. Phải chờ khi người Mỹ đến với hàng tá phim câm năm 1903, thị trường phim ảnh mới thật sự xuất hiện. Hollywood với phong cách hào nhoáng và giật gân, đã để lại dấu ấn vĩnh viễn ở đây.

Thập kỉ 70 được xem là “kỉ nguyên vàng” thứ hai, với sự ra đời của “bomba” – thể loại phim khiêu dâm nhẹ được yêu thích rộng rãi ở đây. Hollywood trở lại với thể loại hành động khoa trương, tiếp tục được chấp nhận. Điều đáng giá nhất, đây là thời điểm khai sinh dòng phim độc lập tại Phillipines, trước cả khi khái niệm “phim độc lập” ra đời. Năm 1977, đạo diễn Kidlat Tahimik thực hiện bộ phim bán tiểu sử Perfume Nightmare (Ác mộng nước hoa), kể về một tài xế taxi ám ảnh với du hành không gian. Phim thắng giải Bình luận tại LHP Berlin cùng năm. Từ đó, dòng phim tác giả phát triển mạnh mẽ và đồng hành với điện ảnh chính thống tại Phillipines.

Đáng tiếc, chế độ độc tài của tổng thống Ferdinand Marco đã phá hủy tất cả. Năm 1972, ông ban bố tình trạng thiết quân luật ở mọi lĩnh vực, trong đó có điện ảnh. Ông lập ra Ủy ban Kiểm duyệt và kiểm soát tất cả kịch bản trước khi chấp thuận làm phim. Tất cả các đề tài có tư tưởng tự do, ngay cả bomba, đều bị cấm tuyệt đối. Thứ còn lại là các phim hài hước nông cạn, với hầu hết là cảnh phụ nữ đẹp mặc bikini, bị truy đuổi trên các bãi biển hay thác nước. Một trong những phim điển hình là The Most Beautiful Animal on the Face of the Earth (Động vật đẹp nhất trên mặt đất, 1974), với sự tham gia của Hoa hậu Hoàn vũ Gloria Diaz.

poster-the-most-animal

Poster phim The Most Beautiful Animal…

Đạo diễn Gil Portes tình cờ khám phá ra cách cứu vớt phòng vé nội địa bằng bộ phim Small Voice (Giọng nói nhẹ) năm 2002. Phim kể về một cô giáo động viên học trò theo đuổi ước mơ, không những thắng lớn ở thương mại, còn có tác động cải cách hệ thống giáo dục Phillippines. Quan trọng hơn, Small Voice mở ra thể loại ăn khách mới: Truyền cảm hứng giới trẻ. Các phim kế tiếp Crying Ladies (Những quí cô khóc, 2003), Magnifico (Tuyệt diệu, 2003), The Masseur (Người mát-xa, 2005)… tập trung vào các nhân vật trẻ vượt qua thử thách, đều thành công vang dội.Thập kỉ 80, 90 là giai đoạn chùng xuống của điện ảnh Phillipines. Các nhà làm phim kì cựu bế tắc trong một vòng tròn nhân vật, kịch bản, phong cách, lặp đi lặp lại bắt chước Hollywood. Nếu không bắt chước, thì họ quay lại các thể loại cũ, như các biến thể của bomba, lãng mạn tuổi teen nhàm chán. Sự thay đổi bắt đầu từ đầu thế kỉ 20, dẫn lối cho điện ảnh Phillipines bước vào “kỉ nguyên vàng” thứ ba, là sự kết hợp giữa hai yếu tố: Tuổi trẻ và công nghệ.

Nhưng sức sống không chỉ đến từ nhân vật, mà còn là người đứng sau máy quay. Cuộc cách mạng công nghệ với camera kĩ thuật số, đã thay đổi cả một thế hệ làm phim mới ở Phillipines. Dòng phim độc lập, vốn vẫn duy trì được sức sống, được tiếp cận bởi các đạo diễn trẻ và phát triển mạnh mẽ. Giờ đây, không còn là một nhóm làm phim phải cầu cạnh tài trợ, các đạo diễn chỉ cần chiếc máy quay để kể câu chuyện họ muốn kể. 216/256 phim nội địa được làm năm 2012 là phim độc lập tại Phillipines, và “hầu hết là của thế hệ trẻ,” theo Hiệp hội Phát triển phim Phillipines. Cùng năm, thắng giải Phim hay nhất tại hai LHP lớn nhất nước này là Cinemalaya và CineFilipino, đều là các đạo diễn 21 tuổi. Trước đó, năm 2009, Phillipines có đạo diễn dưới 30 tuổi đầu tiên tranh tài tại Cannes, là Raya Martin với phim Indepencia (Độc lập).

small-voice-2002

Cảnh phim Small Voices

Điều đáng ghi nhận, là các phim độc lập đang ngày càng được khán giả Phillipines đón nhận. Các nhà rạp cũng ngày càng rộng cửa hơn với các đạo diễn vô danh. Và tương lai của cả ngành điện ảnh Phillipines đang rất hứa hẹn, theo lời Lav Diaz, khi những phim dài đến 8 hay 10 giờ đồng hồ vẫn tìm thấy người xem. Diaz được xem là một trong những cột trụ của ngành phim Phillipines hiện tại. Dù thế nào, vẫn luôn cần một người kì cựu dẫn dắt. Cùng với các tài năng trẻ triển vọng khác, họ đang cùng nhau khắc họa gương mặt mới cho điện ảnh nước này. Sư Tử Vàng chỉ là sự công nhận đầu tiên. “Điện ảnh còn rất non trẻ, và chúng tôi vẫn có thể thúc đẩy nó phát triển,” ông nói.

Quên mật khẩu

Đăng Ký