In The Mood For Love (2000) Vấn Vương Một Đời

Bình Luận Phim Phim Đương Đại Phim Xuất Sắc
10

Hoàn Hảo

9.5

Điểm bạn đọc

In the mood for love đã phần nào khai sinh ra một thuật ngữ mới của nền điện ảnh Á Châu, đó chính là “Vương Gia Vệ”, bởi đa phần các bộ phim của ông đều có những khuôn hình lắng đọng, da diết, đặc tả nỗi cô đơn của con người, từng thân phận, từng mối tình… thông qua những biểu tượng cụ thể mà đầy chất ám ảnh.

Hong Kong trong những năm 60, ở một khu tái định cư chật hẹp có hai cặp vợ chồng cùng chuyển đến sát nhà nhau trong cùng một ngày. Đó là Tô Lệ Trân, thư ký của một công ty hàng hải cùng người chồng thường xuyên đi công tác xa. Cặp còn lại là Châu Mộ Văn, một phóng viên và một người vợ cũng thường xuyên vắng nhà. Dần dần hai người đã phát hiện ra những người bạn đời đã lén lút hẹn hò sau lưng họ. Những cuộc gặp gỡ bất chợt, nỗi đau bị phản bội, tình yêu dành cho truyện kiếm hiệp và trên hết là nỗi cô đơn đã dần kéo họ lại gần nhau. Một cách chậm rãi từ từ, chính họ rồi cũng lặng lẽ sa vào một mối tình say đắm không thể tiến tới mà cũng không thể cưỡng lại.

Tên gốc của bộ phim là Hoa dạng niên hoa, chỉ về những năm tháng đẹp nhất của người phụ nữ, nhưng đạo diễn Vương Gia Vệ đồng thời cũng muốn nói đến giai đoạn đẹp nhất của Hong Kong lúc đó (Theo Wikipedia).

Với tựa đề là “Tâm trạng khi yêu” (In the mood for love), đạo diễn họ Vương đã sử dụng yếu tố cảm xúc và quay chậm những biểu cảm của nhân vật làm tâm điểm chính. Không có quá nhiều hành động, lời thoại thì càng không, nên bằng cách đó, người xem sẽ chú ý nhiều hơn vào từng chi tiết nhỏ của Châu và Tô, ánh mắt ngại ngùng nhưng chân thành, hun hút sâu khi nhìn xoáy vào khoảng không gian vô định của cô Tô, làn khói thuốc ngập ngụa trong phòng làm việc của anh Châu, làn môi mấp máy vài lần định thốt ra lời nhưng không được, và đặc biệt là hành động e dè, mực thước của cả hai khi đối diện, khi biết rằng tình cảm đã chạm ngõ đến hai trái tim tội nghiệp này, nhưng không thể nào tự do mà đến với nhau được.

25-In-the-Mood-for-Love

Cốt truyện trong In the mood for love không mới, hai nạn nhân của một vụ ngoại tình khi biết được đã tìm đến chia sẻ, giải bày nỗi lòng, rồi tình cờ phải lòng nhau. Hollywood, Hàn Quốc hay Việt Nam đều có những phim như thế, nhưng điểm sáng của In the mood for love chính là ở chỗ, bộ phim đã phơi bày rất chân thực cảm xúc và biểu hiện khi yêu mà không nói được lời nào. Trang sáng tranh tối hiện rõ mồn một, từng thước phim quay chậm để người xem thấy rõ nhất khóe mắt ươn ướt, chuyển động của cánh tay đã đưa ra rồi dần dần hạ xuống, người xem cũng thấy rất rõ cái nghiêng đầu, cái khóe môi khi sắp bật thành lời nhưng lại rồi thôi.

Cả bộ phim, đạo diễn không ít lần nhen nhóm niềm hi vọng cho người xem, hi vọng là hai người ấy cứ đến với nhau, để mặc cho những lời đàm tiếu, dị nghị từ khu trọ, từ những kẻ nhiều chuyện xung quanh, bất chấp vượt qua rào cản định mệnh của người phụ nữ Á Đông. Và chính cái cảm giác vừa chới với vừa ấm ức của chúng ta là thành công của bộ phim. Một cuộc tình đẹp quá, mong manh quá, hai người chẳng ai lao vào nhau cho trọn một đêm, cho qua một thời gian ngắn nào đó, quên hết đi mọi thứ xung quanh và yêu, cứ yêu cho qua ngày đoạn tháng. Không, họ không hề chọn điều đó, tình yêu của họ vừa vị tha, vừa bí ẩn. Cái bí ẩn chẳng bao giờ giải mã, cũng chẳng cần người thứ ba thấu hiểu.

Cái bí ẩn ấy vừa cùng với nỗi buồn, đã thầm lặng trạm trổ nên một bức tranh cổ điển, mang theo bí mật của tình yêu hai người vào những năm 60 đầy biến động. Cái bí ẩn mang theo sự hoài niệm cho cả hai, niềm day dứt của Châu và nỗi sợ hãi của Tô.

Màu sắc trong phim tuyền màu đỏ truyền thống và vàng ngói hoài cổ của Hong Kong những năm 60, những dãy phòng chật chội, tù túng, nóng bức như định kiến con người vào thời điểm ấy. Chính vì không gian chật chội ấy mà họ cứ nhìn đối diện vào nhau, tham lam muốn tường tận mọi chuyện trong nhà ngoài phố, rồi đánh giá, rồi dò xét, và bất cứ thông tin nào đi ngược lại với quan điểm xưa nay là lập tức thành một chủ đề lớn để đem ra tra khảo. Cái tàn nhẫn-không-hề-ý-thức ấy đã giết chết đi tự do của biết bao nhiêu người, bao nhiêu mối tình đẹp, khiến chúng trở nên dang dở một cách đáng thương. Xét theo một khía cạnh nào đó, In the mood for love đã phản ánh rõ nét tấm khiên lãnh lẽo của thời đại, nó đã tồn tại suốt từ thời phong kiến cho đến khi xã hội chuyển mình (đặc biệt là các nước Châu Á). Người ta cứ ngỡ là thời gian sẽ làm cho tấm khiên ấy hao mòn đi và có vài điều mới mẻ. Thế nhưng, sự thật thì nó vẫn đứng đấy thật kiên cố, làm cho người ta trở nên chùn bước trước hoài bão của chính mình, ngăn cách những mối tình như của Châu và Tô.

in the mood 15

Chính vì phim ít sử dụng thoại, nên đạo diễn đã để âm nhạc góp phần mạnh mẽ vào tâm tư và tiếng nói của con người, đặc biệt là ca khúc Quizas Quizas Quizas của Nat King Cole và nhạc nền Yumeji’s theme của  Shigeru Umebayashi. Nhạc phim khi gợi buồn da diết, lúc tình tứ dạt dào. Bản nhạc ấy quả thật là còn buồn còn cả chữ buồn, có đoạn ngân lên nốt cao mà người nghe còn cảm thấy ngỡ ngàng, như thể là lời bộc bạch tình yêu đã bị kèm nén và chịu đựng quá lâu, nhưng cũng chưa được phép biểu lộ ra ngoài. Đoạn nhạc lặp đi lặp lại một cách ám ảnh, cuối bản nhạc nốt cao rơi xuống, bản nhạc đứng trơ trọi, như bám vào từng viên gạch trong lối cầu thang hẹp giữa 2 con người đó. Còn Quizás Quizás của Nat king Cole thì mộc mạc, người nghe cảm thấy có sự bình yên, dù vẫn có chút lưu luyến, tương tư, nhưng vẫn được giải tỏa, có lẽ cả hai đều là tâm trạng khi yêu.

In-the-Mood-for-Love-149

Có thể nói, In the mood for love cực kỳ thành công nhờ có một đạo diễn biết quan sát và cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ, Vương Gia Vệ đã tô đậm vẻ đẹp kiều diễm, mực thước của Tô Lệ Trân qua kiểu búi tóc cao của người phụ nữ đã có chồng, luôn chỉn chu trong những chiếc xường xám bó chặt…

In the mood for love đã phần nào khai sinh ra một thuật ngữ mới của nền điện ảnh Á Châu, đó chính là “Vương Gia Vệ”, bởi đa phần các bộ phim của ông đều có những khuôn hình lắng đọng, da diết, đặc tả nỗi cô đơn của con người, từng thân phận, từng mối tình… thông qua những biểu tượng cụ thể mà đầy chất ám ảnh. Chẳng hạn như nỗi cô đơn, trầm tư toát ra từ làn khói thuốc dày đặc của Châu Mộ Văn. Sự cô đơn, trống trải của nhân vật không hề bị khuất lấp bởi những đồ vật đặt san sát nhau trong căn phòng trọ và chỗ làm việc; mà ngược lại, chính các đồ vật ấy đã gắn bó với nỗi đau của hai người, cùng chịu đựng với họ, cùng len lén nhìn vào mắt họ khi nhớ về người kia. Vẻ đẹp liêu trai của con phố nhỏ nấp mình ngắm nhìn tình yêu của hai người, có lối cầu thang tối chật hẹp – nơi chứng kiến hai trái tim thổn thức mà không dám hiển lộ. Kỹ thuật quay chậm (Slow motion) đã đưa từng khung hình đẹp lộng lẫy, trang nhã đến với trái tim của người xem, ngọt ngào nhưng cũng chua chát đầy ngỡ ngàng.

Có những cuộc tình, dù chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, để lại nỗi nhớ lững lờ, để lại những dư âm khó nói thành lời, nhưng buồn bã thay, cuộc tình đó sẽ sống mãi trong lòng của người trong cuộc và trở thành một bí mật đang được in sâu vào những hòn đá bí mật.

In the mood for love là 1 bản tình ca buồn và đẹp. Tâm trạng khi yêu, tâm trạng khi lý trí án ngữ con tim, vẫn là một tâm trạng chẳng bao giờ quên, chẳng thể nào quên…

 

 

 

Tổng kết

Một biểu tượng của nền điện ảnh Hong Kong, làm nổi bật phong cách làm phim nhiều ẩn dụ của Vương Gia Vệ. In the mood for love tôn vinh chất biểu cảm sâu sắc từ ngôn ngữ hình ảnh và âm nhạc, thay cho mọi lời thoại và tạo ra một thời đại mới của nền điện ảnh Châu Á.
10

Hoàn Hảo

Quên mật khẩu

Đăng Ký