La La Land (2016): Một Bức Tranh Chuyển Động Của Edward Hopper

Góc Nhìn Điện Ảnh Thế Giới Điện Ảnh

Có nhiều điều kiện để tạo nên một bộ phim hoàn hảo, một kịch bản ý nghĩa, dàn diễn viên chuyên nghiệp, một đạo diễn giàu tư duy, một ekip quay phim tài năng, âm nhạc ý nghĩa. Nhưng rất hiếm có những tác phẩm hội tụ đầy đủ các yếu tố trên, để trở thành một tác phẩm lớn.

Ở thế kỷ 21, Damien Chazelle và bộ phim La La Land đã hoàn thành một giấc mơ của điện ảnh, một dư vị mà đã lâu chưa xuất hiện quay trở lại, một bộ phim giản dị về cuộc sống và giấc mơ. La La Land chính là một điển hình rất thú vị để cho thấy sự tương tác giữa hy sinh và thỏa hiệp, trong việc theo đuổi những tham vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ.

Dưới hình thức là một bộ phim âm nhạc, La La Land đã kể lại một câu chuyện mà đâu đó chúng ta có thể tìm thấy trong cuộc sống, đã từng sống mãnh liệt trong tuổi trẻ, và trở thành một ký ức sống động khi trưởng thành. La La Land là nơi mà khán giả tìm thấy được sự kiêu hãnh của tuổi trẻ. Điều đặc biệt mà La La Land mang lại chính là một dư vị, một cảm giác, đó là tiếc nuối. Một câu chuyện tình đặt kề bên niềm khát khao thực hiện ước mơ, phát triển sự nghiệp ở vùng đất hứa như L.A. Đó là hình mẫu của nhiều mối tình điện ảnh. Dù không có sự khác biệt nhiều ở La La Land so với các tác phẩm cùng đề tài trước đó, nhưng cách thể hiện của Damien theo kiểu chương hồi bốn mùa, mốt cách kể chuyện rất được ưa chuộng bởi khán giả Châu Á, lại được anh vận dụng khéo léo trong một tác phẩm điện ảnh đậm màu Mỹ.

Đầu phim, một bữa tiệc âm nhạc trên đường phố với những hòa sắc của các poster cỡ lớn, liên tưởng đến các vở nhạc kịch phim cổ điển, một giấc mơ theo đuổi sự lạc quan của giới trẻ thành thị khi tắt đường. Đâu đó, người ta nhìn thấy một thế hệ trẻ với ước mơ lớn, một liên tưởng đến bộ phim kinh điển Singing in The Rain, series phim nhảy múa dành cho giới trẻ Step Up, hay như những bộ phim lãng mạn của Woody Allen. Một lời chào mừng khán giả bắt đầu khám phá giấc mơ của một thành phố Los Angeles, L.A L.A  LAND.

Một nhạc công chơi piano thất thời gặp một cô gái đang chán đời tại một nhà hàng. Không có gì là lý tưởng cho đêm Giáng sinh. Sebastian (Ryan Gosling) là một người yêu Jazz đến cực đoan, anh sẵn sàng phản ứng gay gắt khi người khác yêu cầu anh chơi một thể loại âm nhạc mà anh không thể tiếp nhận. Bằng sự sắp đặt ánh sáng của sân khấu, Damien đã dự báo về anh, một nghệ sĩ lớn, và ý tưởng anh ta buộc phải bị sa thải vì chơi nhạc theo ngẫu hứng là một chi tiết gợi mở thú vị, Seb sẽ trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng anh vẫn sẽ mãi đơn độc.

Đối lập với Seb, Mia, một người sống trong không khí điện ảnh ngay từ nhỏ, ước mơ được diễn kịch của Mia vừa là để viết tiếp câu chuyện của người dì quá cố, cũng chính là vì tham vọng của chính cô. Ở một  khía cạnh nào đó, Mia thực tế và tỉnh táo hơn Seb, cô biết nắm bắt từng cơ hội và chưa bao giờ bỏ một buổi thử vai nào.

Hai tính cách trái ngược trên đã vô tình găp nhau khi Seb bị sa thải vào đêm Giáng sinh. Xuân qua, hè sang, thu tới. Tình cảm nảy nở dần dần kèm theo những rung động và hòa nhịp tâm hồn của hai người. Seb và Mia đã có những khoảnh khắc không thể đẹp hơn của tuổi trẻ, khẽ nắm tay nhau trong rạp chiếu phim, dạo bước trên mây, khiêu vũ trên bầu trời đầy sao, cùng nhau thức dậy mỗi sáng và chúc nhau ngủ ngon. Damien đã ghi lại nhật ký tình yêu của Seb và Mia từ xuân sang hạ, rồi vào thu, và dừng lại ở mùa đông. Câu chuyện tình của họ khi đó luôn đi liền với sự thăng hoa của cảm xúc và những mơ mộng. Và chuyện gì đến cũng phải đến, trong khi Seb vẫn loay hoay về việc tìm một nơi biểu diễn cố định sau khi bị sa thải, thì anh nhận ra gia đình của Mia cần cô quen với một người có nghề nghiệp ổn định. Seb đã quyết định chuyển sang chơi nhạc cho một band nhạc lớn để giải thoát bế tắc về tài chính.

Mâu thuẫn này là một cách đặt để cho thấy sự hiện diện của đồng tiền và danh vọng trong cuộc sống, đã dẫn đến cuộc đấu tranh nội tâm của không ít người trẻ, giữa lý tưởng nghệ thuật cực đoan, và sự thỏa hiệp trong nền giải trí công nghiệp. Đây là câu hỏi lớn này đã từng được nhiều nhà làm phim giải đáp bằng tác phẩm của họ. Với  Damien Chazelle, một đạo diễn trẻ được biết đến ở dòng phim arthouse, cùng với ekip làm phim trẻ và đầy tâm huyết, tôi nghĩ rằng, La La Land chính là lời giải đáp của họ. Tư tưởng của anh, là điều mà Keith (John Legend) đã chia sẻ với Seb trong phòng tập. Nếu muốn cứu Jazz, hay cứu sống lý tưởng của mình, thì trước tiên hãy cứu lấy chính mình. Và nghệ thuật không hề chết đi, nó chỉ thay đổi theo xu hướng, cách mà chúng ta giữ không phải chỉ là giữ lấy hình bóng quá khứ, mà là tìm cách làm mới nó, thổi hồn vào nó, và chia sẻ với những người trẻ. Để làm được điều đó, chính bản thân người nghệ sĩ phải tự cứu họ trước. Và ở mức độ nào đó, những nghệ sĩ trẻ đừng quá sa lầy vào cám dỗ của đồng tiền, cần nhất chính là sự tỉnh táo.

Trong phim, có một chi tiết minh chứng cho sự tinh tế của đạo diễn, đó là cảnh khi Mia nói chuyện với mẹ phía bên ngoài, ở trong phòng, Seb đã vô tình nghe thấy. Ở góc độ nào đó, tôi nghĩ rằng Mia đã cố tình để Seb biết được điều đó. Âm thanh của cô khi nói chuyện qua điện thoại không quá nhỏ. Dù sau đó, chính cô là người đã kêu Seb hãy nghĩ đến Câu lạc bộ Seb’s Jazz của anh, hãy nghĩ đến những bản nhạc của chính mình.. Nhưng tận sâu trong thâm tâm, Mia vẫn cần một người đàn ông như mẹ cô đề cập. Điều này có thể lý giải phần nào ở cái kết cuối phim. Sự mộng mơ không hề triệt để ở bất cứ ai. Chính Mia, chứ không phải Seb, mới là người dễ thỏa hiệp với cuộc sống hơn cả, vì hành trình mà cô đang theo đuổi để trở thành một ngôi sao sân khấu, một phần lớn là để viết tiếp ước mơ của người dì quá cố. Còn Seb, anh chính là hình mẫu của một nhóm nhỏ trong xã hội, chỉ cần bước thêm một chân qua danh vọng thì anh sẽ đánh mất chính mình. Sự tuyệt vọng và vô nghĩa của cuộc sống sẽ vùi lấp anh.

Đây là một bộ phim nếu nói ở khía cạnh nào đó, nó phi lý, nó chỉ là giấc mơ. Thể loại nhạc kịch góp phần cho bộ phim có tính ước lệ, nhưng với mình, bộ phim không phải là về nhac jazz hay kịch nói, đây là một phim nhấn mạnh tư tưởng của những người có hoài bão. Họ biết dung dưỡng cho sự lãng mạn, nhưng đồng thời họ phải tìm cách thỏa hiệp với thực tế. Có phân đoạn, khi Seb và Mia đang hòa vào sự lãng mạn, họ hát ca vô tư thì âm thanh của tiếng chuông iPhone vang lên, quá dễ đoán cho cái gọi là thực tế vùi lấp giấc mơ. Nhưng tôi nghĩ vậy, chẳng có thực tế nào phải hi sinh cho giấc mơ nào, chúng không tồn tại như những đối trọng, mà là cùng nhau tồn tại. Chỉ vậy thôi, ngay cả những khoảnh khắc của hiện thực được nối tiếp với sự mộng mơ, đó mới là điều kỳ diệu mà bản thân chúng ta không bao giờ nhận ra trước đó.

Cách thể hiện của Damien Chazelle bằng cách giả lập hai kết thúc với mệnh đề “nếu – thì” mà tôi đã gặp ở phim Il Mare (2000). Đây là cách làm phim không phải để thỏa mãn cảm xúc khán giả, mà là cách để đan xen giữa mơ và thực để người xem tự quyết định. Với cách thức này, bộ phim trở nên gần gũi với khán giả hơn, và đáp ứng được tiêu chí nhẹ nhàng của thể loại nhạc kịch. Những tràng vỗ tay dành cho La La Land trên thế giới như một lời tri ân dành cho nền điện ảnh cũ trong thập niên 50, thời điểm hưng thịnh của dòng phim nhạc kịch. La La Land cũng là một lời nhắc nhớ dành cho dòng nhạc Jazz đang ngày càng ít được chơi, như pure Jazz và cool Jazz, thể loại gắn liền với các buổi biểu diễn bán cháy vé của Bill Evans, Mile Davis hay Thelonious Monk…

Có thể nói, La La Land là một bộ phim đặc biệt, và cái hay của phim chỉ nằm duy nhất ở một thứ: đó là cảm giác. Là sự tiếc nuối. Điều này giống như một câu thoại trong phim Before Sunrise (1995) của Richard Linklater, “Vì sao một mối quan hệ đẹp cần phải kéo dài mãi mãi?“. Người xem có thể ngầm đoán ra sự phi lý nếu đối chiếu với cuộc sống, Seb và Mia hoàn toàn có thể đến với nhau và cùng theo đuổi ước mơ nghệ thuật. Hoặc vì sao cả hai đã không liên lạc với nhau để kéo gần khoảng cách?… Damien Chazelle đã không chọn cách kể chuyện bình thường để lý giải hàng loạt câu hỏi “vì sao” của khán giả. Với tôi, đây chính là điểm chứng minh cho sự tinh tế của anh lần nữa. Lược bỏ tình tiết và kể lể là một cách làm phim rất khó, mà chỉ có những đạo diễn tài nâng mới dám làm và làm tốt. Không cần biết vì sao Mia có chồng, hay trong 5 năm đó Seb và Mia đã sống thế nào. Điều quan trọng, là khi gặp lại thì họ vẫn dành cho nhau những cảm xúc nguyên bản và thuần khiết của thời hoa niên. Với tôi, như vậy đã là quá đủ.

Ngoài ra, La La Land còn là một bộ phim tổng hòa vẻ đẹp của mỹ thuật và âm nhạc. Đồng thời, với thể loại phim nhạc kịch thì cần phải có sắp xếp cảnh và ánh sáng, là cách thức để hữu hình hóa giấc mơ. Trong phim, thoáng có một cảnh khi Seb và Mia trong viện bảo tàng Griffin, họ đã hát ca và khám phá một giấc mơ khác của nhau, phân cảnh đó khiến cho tôi nghĩ ngay đến một bức tranh của Edward Hopper đang chuyển động. Kỳ ảo và giản dị. Mộng thực đan xen. Đó chính là điều khiến cho tôi ấn tượng về mỹ thuật của phim, hơn cả ánh hoàng hôn tím ngắt, những cột đèn và ngọn hải đăng trong phim.

Có thể nói, La La Land chính là một tác phẩm điện ảnh của giấc mơ mà người xem đã tìm kiếm bao lâu nay.

"Một trong những điều tôi không thể làm quen với tuổi trẻ của tôi là sự khác biệt mà tôi tìm thấy giữa cuộc sống và văn học" (James Joyce)

Quên mật khẩu

Đăng Ký