Quyển Sách Nhỏ Của Tôi

Blog

Ngày cuối cùng của hội sách cũ, một cách tình cờ, tôi đi chung với H. Lẽ ra cô đã đi vào hôm trước, và chúng tôi sẽ đi xem phim. Tôi cũng đã down sẵn một bộ phim để trong usb. Địa điểm là quán Café Hd trên đường Cách mạng tháng 8, đã trở thành nơi xem phim nhiều thứ hai sau rạp chiếu bóng. Vì vài lý do, cô không đi kịp, do đó rủ tôi đi cùng. Khác với H, tôi không quá hứng thú với các hội sách. Nghĩ lại thì đây mới là lần thứ hai tham gia. Lần trước đi cùng với Nh, cách đây hai năm ở công viên Lê Văn Tám. Cũng cùng cách tình cờ như thế. Không phải có vấn đề gì với sách, tôi chỉ không hợp với những chỗ đông người, nóng nực, có âm thanh chát chúa.

Lần này dễ chịu hơn, bởi quy mô của hội sách cũ nhỏ hơn rất nhiều. Chỉ có khoảng ba đến bốn dãy trưng bày, mỗi dãy cũng chừng đó cửa hàng, nên không quá xô bồ. Không gian ở Nhà văn hóa Thanh niên dễ chịu hơn hẳn, với mái che và khu vực sân khấu trống để ngồi nghỉ. Ngoài ra, đi với H rất thú vị. Giống như đứa bé tìm thấy đúng chốn vui chơi, cô ấy lập tức lao vào biển sách đang trưng ra kia, quên hết mọi thứ xung quanh. H nói rằng cô muốn tìm những quyển của Dostoevsky, nhà văn cô yêu mến (và vẫn để Avatar hình ông trên facebook – cho đến lúc đọc hết sách ông mới gỡ xuống, cô nói), mà chưa được xuất bản ở Việt Nam hoặc có trên ebook. Vì thế, cô không có cơ hội nào đọc được. H tìm tỉ mỉ, từng quyển một, từng hàng một, với sự say mê và chú tâm đáng ghen tỵ trong suốt ba giờ đồng hồ sau đó.

Tôi chỉ nhìn qua loa, và đi theo H là chính. Gọi là sách cũ, nhưng phần lớn vẫn là sách mới giảm giá. Chỉ có vài nơi để sách cũ thực sự. Sau khi dạo vòng quanh, chúng tôi ghé vào tiệm trông có vẻ khang trang nhất, với các quyển sách được bao bóng cẩn thận. Nhưng vừa nhìn vào giá, tôi đã tá hỏa. Những quyển cũ đến mức mực đã mờ, gáy long, có khi còn không đọc được, lại có giá gấp 5, 10 lần những quyển sách mới. Thấy tôi thắc mắc, H mới trả lời rằng, là do chúng được xuất bản trước năm 1975.

“Trước năm 75 là sao?” tôi hỏi, và H nói rằng khi quân miền Bắc tiến vào Sài Gòn, họ đã ra lệnh đốt hết sách do miền Nam xuất bản. Gần giống như trong bộ phim The Book Thief miêu tả, và tàng trữ sách đồng nghĩa với tội phạm. Vì thế, những quyển còn sống sót qua thời kỳ đó rất hiếm, đương nhiên có giá rất cao. Tôi rất ngạc nhiên, vì trước đó chưa hề biết đến điều này. Để ví dụ, H cho tôi xem hai quyển sách cùng loại xuất bản chỉ cách nhau một năm, và đúng là sách cũ sau 75 giá rất rẻ. Lúc về nhà tôi có tìm hiểu thêm, theo một nguồn thống kê thì khoảng 180 triệu quyển sách, có thể nhiều hơn, đã bị tiêu hủy. 20 năm phát triển nền văn học miền Nam hóa thành mây khói chỉ một thời gian ngắn. Sau này, những quyển sách đó trở thành “sách quí” được nhiều người sưu tầm.

Khi cầm trên tay những quyển sách này, tôi chỉ nghĩ đến những gì chúng đã trải qua để được ở đây. Ít nhất đã 40 năm từ ngày xuất bản, chúng đã từng ở đâu, và làm cách nào để thoát được khỏi số phận thành tro bụi? Một vài người yêu sách đã tìm cách tuồn chúng ra nước ngoài, vào những ngày cuối cùng. Những người khác chấp nhận hiểm nguy giấu chúng ngay trong nhà, hoặc chôn xuống đất. Hoặc nhiều cách khác nữa, có lẽ nằm ngoài trí tưởng tượng. Chỉ một ít trong số đó còn được lưu giữ đến ngày nay. Tôi nghĩ về những bàn tay đã từng lần giở những trang này, những đôi mắt đã từ đọc đúng các dòng chữ này, họ đã từng suy nghĩ và cảm thấy gì? Họ đang ở đâu bây giờ? Và nhận ra, chúng mang trong mình nhiều giá trị hơn chỉ là quí hiếm. Chúng là dấu chứng cho một thời kỳ đã biến mất, đã trở thành bóng ma lịch sử.

H gọi tôi vài lần để xem những quyển sách mà cô nghĩ tôi sẽ thích. Một vài quyển về lịch sử điện ảnh được biên soạn rất công phu, và một quyển kể về cuộc đời Charlie Chaplin mà nhiều tình tiết tôi chưa được biết. Và cả sách của Saint Exupery, tác giả mà H biết tôi yêu mến – gần giống như Dostoevsky đối với cô. Nghĩ lại thì, đây là tác giả cổ điển duy nhất tôi cố gắng sưu tầm cho đủ bộ. Chỉ vì Hoàng Tử Bé. Tôi đã mua tất cả những phiên bản bìa khác nhau của quyển sách này, với nhiều người dịch. Rồi từ đó tìm thêm các quyển khác, là Xứ Con Người và Bay Đêm. Tôi thích văn phong của Exupery, lúc nào cũng như nhìn thấy những ánh sao lấp lánh trong đó. Những tư tưởng của ông, suy nghĩ của ông về con người, về cách sống, cũng đẹp như văn ông. Ở đó có sự sâu sắc và chân thành, có chất đời và tình yêu, mà tôi luôn tìm kiếm.

Thế rồi H tìm thấy một quyển chưa bao giờ tái bản trở lại là “Phi Công Thời Chiến”, xuất bản lần đầu năm 1942 ở Pháp. Bản tiếng Anh có tựa mang nghĩa hơi khác là Fly To Arras. Như hầu hết các tác phẩm khác, đây vẫn là một dạng hồi ký của Exupery khi còn làm phi công phục vụ cho quân đội trong cuộc chiến ở Pháp năm 1940. Chỉ đọc vài dòng trích dẫn, tôi cảm thấy phấn chấn. Quyển sách có bìa là hình vẽ tay đúng một người phi công, nét vẽ và màu sắc rất mộc mạc, tuyệt đẹp. Thì ra là cảm giác này mà H đang trải qua, giống như một đứa trẻ tìm thấy kho báu vậy. Tôi định bụng sẽ dành tiền mua nó, tất nhiên không rẻ, chính xác là gần hết số tiền tôi đang mang theo. Sẽ phải bỏ qua các quyển khác.

Nhưng kho báu thật sự vẫn còn chờ phía trước. Vài phút sau, H gọi tôi một lần nữa, và đưa lên một quyển sách khổ nhỏ, được bọc trong giấy kính có phần cẩn thận hơn các quyển khác. Tôi luôn là kẻ cảm thấy xa lạ với sự sở hữu, chưa bao giờ ham thích với việc chi nhiều tiền cho các giá trị khác ngoài giá trị sử dụng, giờ thì tất cả đã sụp đổ. Đó là một bản in Hoàng Tử Bé năm 1973. Có lẽ sẽ chẳng bao giờ có bìa sách nào đẹp hơn được nữa, dù tôi đã phải vuốt ve ngắm nhìn khi cầm trên tay bản in kỷ niệm 70 năm của Nhã Nam. Tất cả đều không thể so sánh. Nhận quyển sách từ H, tôi nhìn nó hoài không chán. Hẳn người làm bìa phải yêu quyển sách lắm, mới có thể truyền tải được tinh thần của nó, một cách giản dị mà tinh tế như vậy. Khi cầm quyển sách, tôi cảm thấy rõ ràng và chắc chắn rằng, trước sau gì tôi cũng phải có nó.

Tôi nhớ đến một buổi tối cách đây hai năm. Trên chuyến xe buýt từ Đồng Nai lên thành phố, tôi đã đọc từ đầu đến cuối Hoàng Tử Bé với bản in kỷ niệm, và khóc. Chuyến xe vắng người, tôi đọc được nhờ vào ánh sáng mờ nhạt từ bóng điện phía trên. Bên ngoài cửa sổ, ánh đèn xe kéo dài qua ô cửa sổ, và thỉnh thoảng nhìn ra ngoài, tôi có cảm giác như đang lướt đi giữa những vì sao. Giống như Exupery trong những chuyến bay của ông, nơi những câu chữ được hình thành. Vẫn là những lời văn giản dị, nhẹ nhàng và mộng mơ tôi đã đọc 4 năm trước đó, nhưng giờ đầy ắp những trải nghiệm và sự thông tuệ về tình cảm con người. Và sự chia ly. Nó trở thành quyển sách luôn hiện ra mỗi khi ai đó hỏi quyển sách nào tôi yêu thích nhất, đúng như lời người bạn giới thiệu cho tôi, vào năm nhất đại học, đã nói.

Hoàng Tử Bé có giá mắc gấp đôi quyển “Phi công thời chiến”, và mắc nhất trong tất cả các quyển sách cũ trong hội sách lần này. Tôi chưa bao giờ bỏ nhiều tiền đến thế cho một quyển sách, và khi ấy phải mượn H mới đủ. Cô nói rằng có lẽ ai đó cũng không muốn bán, hoặc nếu phải bán, cũng muốn chọn người mua là người thật sự yêu thích và sẽ trân trọng nó. Tôi hiểu. Ngay từ việc quyển sách vẫn còn mới đến thế sau gần nửa thế kỷ, hẳn nó đã may mắn qua tay những con người đã yêu Hoàng Tử Bé thật lòng. Trước khi đến được với tôi bây giờ. Thật lạ lùng khi nghĩ về những sự kiện ngẫu nhiên xảy ra trong suốt thời gian ấy để dẫn quyển sách đến đây với tôi, và những sự kiện xảy ra trong đời tôi để yêu mến nó. Tôi biết chỉ là những sự trùng hợp không hơn, nhưng là những sự trùng hợp vẫn mang ý nghĩa nào đó, trong việc liên kết và nối dài sợi dây liên hệ giữa con người và tình cảm con người. Từ những đôi tay và tấm lòng dũng cảm không nỡ nhìn quyển sách rơi vào biển lửa, cho đến một tâm hồn đẹp đẽ đang suy ngẫm giữa những chuyến bay đêm, cho đến bao nhiêu giọt nước mắt rơi khi Hoàng Tử Bé ngã xuống để về lại với đóa hồng. Đó là sự kết nối đẹp đẽ luôn tồn tại, sẽ tồn tại, cho đến khi nào vẫn còn con người sống trên Trái Đất.

May mắn rằng H đã rủ tôi đi vào ngày hôm đó. Cô cũng đã mua được rất nhiều sách hay, và có vẻ rất vui. Tôi nghĩ mình sẽ rủ H đi xem bộ phim Hoàng Tử Bé, bản chuyển thể hoạt hình của Pháp, sẽ ra mắt vào cuối tháng 12, thay cho lời cảm ơn. Tôi không kì vọng vào phim lắm, bởi nội dung không hoàn toàn theo sát quyển sách, mà thêm vào cốt truyện hiện đại để dễ xem hơn. Ngoài ra, có lẽ sẽ chẳng có bộ phim nào có thể truyền tải được cảm giác và không khí của quyển sách. Nhưng phần âm nhạc khá hay, với bản Somewhere Only We Knows được hát lại, mang đến hi vọng vào một trải nghiệm dễ chịu trong rạp. Tôi chỉ cần có thế. Và bởi vì là Hoàng Tử Bé, hẳn nhiên tôi sẽ không bỏ qua.

Tôi sẽ để ở đây bài viết vào buổi tối của chuyến xe hai năm trước. Và cuối cùng là nhận thức mới về những cuộc chiến tranh. Tôi không thấy bất kỳ điều gì có thể che đậy cho sự xấu xí của hành động đốt sách, một tội ác thật sự. Giống như điều đã xảy ra ở thư viện Alexandria vài ngàn năm trước. Và ở những nước bị Đức Quốc Xã xâm lược vào thế chiến thứ II gần đây. Không phải bản thân con người, mà là tư tưởng, tư duy, của họ, mới là thứ quan trọng nhất. Thứ sẽ vẫn còn giá trị và vang vọng rất lâu sau khi họ qua đời, rất lâu sau khi những quốc gia, những nhà độc tài, những thể chế chính trị, đã biến mất hoặc bị thay thế. Nó là thứ định nghĩa nên con người. Và không có sự ngu dốt hay tự mãn, hay nỗi sợ hãi nào đủ sức để bào chữa cho việc xóa sổ những tư tưởng, tư duy và mối liên hệ ấy.

IMG_0016

Tôi gặp lại em vào một buổi tối. Trên một chuyến xe bus, với thứ ánh sáng trắng từ bóng đèn đung đưa, khiến những chiếc bóng gãy khúc trên khoang xe hẹp bắt đầu nhảy múa, giữa tiếng rì rầm và ánh đèn đủ màu nhòe nhoẹt như vệt mưa trên khung cửa kính. Tôi có cảm giác đang ở trên khoang lái chiếc máy bay của Exupery du hành qua sa mạc. Để rồi gặp nạn, rớt xuống và gặp em.

Tôi đọc câu chuyện mà em có mặt ở đó. Quyển sách tuyệt đẹp, tôi chưa từng thấy quyển sách nào mê mẩn đến thế. Từ bức hình màu nước của tác giả in ở bìa, đến lớp giấy cứng vàng óng ở mặt trong. Đây là quyển sách dành riêng cho tôi.

Tôi không yêu em ở lần đầu tiên. Bạn giới thiệu, nói rằng là quyển sách luôn nghĩ đến cho câu hỏi “quyển sách yêu thích nhất là gì?”. Tôi đọc, tôi thích văn phong người dịch, tôi thích không gian và chuyến phiêu lưu, tôi thích những lời thoại và sự mộng mơ. Tôi có cảm giác đã gặp em ở đâu đó, trước khi tôi ra đời. Tôi có cảm giác đã theo em đến từng tinh cầu, ngắm nghía em trong bộ đồ kỳ khôi, uống cùng em một giếng nước. Nhưng tôi không yêu em. Đời tôi nào có chỗ cho những lần đầu tiên.

Nhưng lần này, tôi đọc sách. Trên chuyến xe mà tôi tưởng đang đưa tôi đi giữa những vì sao, trong thời lượng ít ỏi nhưng vẫn đủ đầy vì em chẳng dài dòng chi lắm. Tôi lật từng trang sách. Vẫn bầu trời đó, với những tinh tú không đổi là năm trăm triệu chuông ngân, giờ tôi đã có thể nhìn thấy giọt lệ. Giờ tôi đã nhận ra những điều đổi khác. Tôi không còn là cậu nhóc lơ ngơ với tâm hồn không tì vết, mắt tôi đã ánh nỗi đau rồi, từ hình khối được tạc nên từ vết đó, tôi mới nhìn rõ được em.

Tôi khóc. Khi em từ biệt đóa hồng. Đóa hồng của em.

Người ta bên nhau vì những sự không nhìn rõ, người ta xa nhau cũng vì những sự không nhìn rõ. Người ta giấu đi cảm xúc thật, tự tôn và ngại ngần sau lớp lá và những chiếc gai, làm tổn thương nhau vì những điều không đáng. Tôi không hiểu vì sao người ta lại khó để hiểu nhau đến vậy, để muôn đời nói những điều không thực lòng và chờ đợi để hy vọng rồi thất vọng. Sao chúng ta không nói thực điều chúng ta muốn? Em không bị cảm đâu, em chỉ muốn anh chăm sóc em. Em không sợ thú dữ, em chỉ muốn anh bảo vệ em. Vì đâu người ta xây nên những vẻ kiêu kỳ để giấu đi cái thực lòng bên trong?

Vì tâm hồn là một thứ mong manh, có phải không? Quá mong manh và dễ trầy xước lắm, để có thể phơi bày trước người khác. Người ta chỉ có thể cho thấy từng chút một, bằng hương thơm và tiếng ca hát và mong mỏi được nhận ra. Rằng niềm vui đó mới quan trọng, không phải là thứ kênh kiệu phô trương kia. Nhưng người ta lại thường để ý đến nỗi buồn nhiều hơn là niềm vui. Và cái phần mong manh nhỏ nhoi kia mãi không được phát hiện.

Mọi lẽ chia xa ở đời đều nằm ở lẽ ấy. Rồi em xa đóa hồng, và chờ đợi được giữ lại. Rồi đóa hồng buông tay, vì nghĩ em muốn đi. Đóa hồng không nhìn thấy tận phút cuối em còn nạo vét ngọn núi lửa, vì sợ làm hư hại cho nàng. Còn em không nghe thấy từng lời nàng nói, không hiểu cái sâu xa trong lời nàng buồn bã. Hình ảnh em bám lấy đàn chim di trú rồi bay đi, in vào tôi trong nhòe nhoẹt. Nó lấp lánh như một trận mưa sao, khoảnh khắc bi lụy ấy. Tôi chưa hiểu thế nào là chia xa ở lần gặp trước, nhưng lần này, tim tôi đã có sẹo rồi, em đừng lo lắng. Tôi tin mỗi vết ngang dọc đó sẽ khiến con tim trưởng thành và vững vàng hơn. Chỉ có chia xa, lẽ ở đời, mới giúp con người hiểu thấu những sự mà khi cạnh bên ta mù lòa không thấy.

Tôi yêu em từ giây phút đó. Khi em rời khỏi tinh cầu của mình và đi về chốn xa xôi.

Tôi không hiểu sao quyển sách này lại được đề tặng cho trẻ em, hay một người lớn đã từng là đứa trẻ. Vì em là một đứa trẻ? Những đứa trẻ sẽ tìm thấy gì nơi em ngoài sự cô đơn? Thế giới của em ngập đầy nỗi cô đơn. Vũ trụ vốn cô đơn, hoang mạc cô đơn, những tinh cầu của các người lớn chỉ có riêng mình họ, chui rúc trong ảo tưởng và bị cầm tù mãi mãi giữa một hạt bụi lơ lửng. Mọi thứ đều vô nghĩa, những ông vua với quyền năng vô nghĩa, những nhà toán học với phép tính vô nghĩa, những nhà địa lý với những ghi chép vô nghĩa, duy có bác thắp đèn là cao đẹp. Nhưng cái cao đẹp gắn với cái mệt nhọc, em muốn nói thế chăng? Hi sinh vì người là mệt nhọc, hi sinh vì đời là mệt nhọc. Như những phi công đã chết để mở các đường chuyển thư đi khắp châu Âu và châu Mỹ mà người bạn đường của em đã kể trong “Bay đêm”? Làm sao những đứa trẻ có thể hiểu thấu?

Hay em muốn kể cho những đứa trẻ rồi sẽ thành người lớn và sẽ tìm lại em, như tôi, để phát hiện ra khoảng không giữa hai con người, tôi và đứa trẻ từng là tôi, với chúng và đứa trẻ từng là chúng, đã trở nên vô tận. Và bằng cách nhận ra sự vời vợi ấy, là hiểu rằng tôi và chúng đã thật sự trưởng thành? Em muốn nói điều gì, Hoàng tử của tôi?

Vì những sự vô hình ấy, những sự đổi thay ấy tôi đã nhìn thấy rồi. Chúng đau đớn một cách dịu dàng. Những mối liên hệ trong đời, không nhìn thấy được đâu, nhưng có thật và biểu hiện ra đấy. Ta thuần hóa bạn ta và bạn ta thuần hóa ta. Bước chân của bạn sẽ khác những bước chân khác khi ta đợi chờ, êm ái như nhạc điệu, khiến lòng ta vui sướng. Ta vui cái vui của bạn, ta buồn cái buồn của bạn. Và khi chia tay, ta dứt đi một phần của mình và đặt vào cánh đồng lúa vàng, bất cứ lúc nào ta nhìn thấy là sẽ nhớ đến bạn. Vậy thì nỗi đau đớn cũng dịu dàng. Bạn đặt dấu ấn trong ta và không bao giờ biến mất. Sa mạc đẹp lắm, vì giữa khô cằn chết chóc đó, có giếng nước ngọt lành ta đã uống cùng bạn. Vì khi nhìn sa mạc ta sẽ nhớ đến giếng nước, ta quên đi cái nhọc nhằn để nhớ đến cái ngọt mát của tình thân. Ấy là khi ngay cả vũ trụ và sa mạc cũng trở nên đông đúc và không còn cô đơn.

Ấy là lúc chẳng có sự chia tay nào thật sự xảy đến. Và ta yên lòng đi tìm đóa hồng của ta.

Đóa hồng ấy, không đẹp hơn năm ngàn đóa hồng mọc sau bức tường, sau tỏa hương thơm hơn năm ngàn đóa hồng mọc sau bức tường. Nhưng đóa hồng không nói dối em, hoàng tử ạ. Nàng là duy nhất. Chỉ có một đóa hồng duy nhất trên vũ trụ được chính tay em chăm bẵm, được lòng yêu em che chắn, được quyền làm em vui và làm em đau. Chỉ có một đóa hồng chờ đợi em. Mọi sự yêu thương trên đời là nằm ở đó, yêu thương người ta đã dành thời gian ở bên, dành tấm lòng để quan tâm chăm sóc, có tài sản nào quí giá để sẻ chia hơn là thời gian đâu. Và dù có chết, ta sẽ tìm về với đóa hồng của ta.

Xin lỗi, Hoàng tử. Tôi cũng lạc mất đóa hồng của tôi rồi. Tôi cũng đã chào nàng mà nương theo một cánh chim di trú bay đến tận xa xăm. Vẫn vì những lẽ thường tình ấy.

Nhưng cuộc đời này ngắn ngủi hơn nhiều, hoàng tử ạ. Thân xác tôi không phải chỉ là một cái vỏ, thân xác tôi là chính tôi, và khi nằm lại là mái nhà tôi yên nghỉ. Tôi không đến từ một tinh cầu mà thuộc về đất mẹ, tôi không thể bay đi. Và thế giới này còn cô quạnh hơn gấp nhiều lần sa mạc đó, nơi những giếng nước đóng kín và ẩn khuất sau lớp tường đá và những câu thần chú. Khi tôi lớn lên, tôi cũng đã thành một kẻ ích kỷ chăm chăm uống cho riêng mình, tôi không sẻ chia và không cố tìm những giếng khác. Tôi chỉ ngồi và mong ngóng người ta sẽ đến, với bước chân êm ái như nhạc điệu, chia cho tôi chút bánh mì được làm bằng lúa mạch từ cánh đồng vàng óng, chia cho tôi chút nước lấy từ giếng của họ. Và biết đâu, một ngày may mắn, họ sẽ chỉ đường dẫn lối cho đóa hồng của tôi.

Tôi không có đủ dũng cảm để đi, và thế đấy, cái lẽ thường tình này sẽ giúp tôi chết rục nơi chốn này. Không cần phải là thứ dũng cảm của kẻ mở đường, như Rivière, nó lớn lao quá. Chỉ là thứ dũng cảm để không đắn đo, bận tâm, mà sống thỏa những tháng ngày ở xứ con người. Tôi không mong em tiếp cho tôi chút gì, từ lớp vỏ em để lại đã phai mất rồi, tôi chỉ mong được thêm một lần nhìn em bay về những tinh tú, một chút ngọt mát này, một chút lấp lánh này, một bờ cát trải dài còn in hình em trong võng mạc, một chút xuyến xao khi không biết là chuông ngân hay giọt lệ, là tôi có thể nhìn lại và thấy cái vô hình ấy, dẫn lối tôi đi.

Chuyến xe của tôi kết thúc. Tôi trở về với hiện thực và cuộc sống của tôi. Ra là thế, người ta còn giàu có thêm vì những nỗi khốn cùng. Câu nói của người bạn đường em đấy.

Tôi đã trở lại mặt đất. Không như người bạn đường của em, đã cùng chiếc máy bay đi lên thẳng những vì sao rồi. Người bạn đường đang mải miết tìm em. Em đã gặp chưa?

 

Quên mật khẩu

Đăng Ký