Roger Yêu Chaz

Blog

Roger Ebert, ngày 17 tháng 7 năm 2012.

Thứ 4, ngày 18 tháng 7, là kỷ niệm 20 ngày cưới của chúng tôi. Làm sao để tôi bắt đầu kể bạn nghe về Chaz? Nàng lấp đầy chân trời của tôi, nàng là sự thật lớn nhất đời tôi, nàng có tình yêu của tôi, nàng cứu rỗi tôi khỏi số phận phải sống cô độc một mình, điều tôi dường như đã hướng đến. Nếu căn bệnh ung thư của tôi phải đến, như nó đã đến, và Chaz đã không ở đó cùng tôi, tôi có thể tưởng tượng được một cơn sụp đổ thẳng đến tình trạng già yếu cô đơn. Tôi đã bệnh rất nặng. Tôi đã có thể suy kiệt trong tuyệt vọng. Người phụ nữ này không bao giờ đánh mất tình yêu, và khi cần thiết nàng ép buộc tôi phải muốn sống. Nàng luôn ở đó và tin rằng tôi có thể làm được, và tình yêu của nàng giống như cơn gió đẩy tôi trở lại từ nấm mồ.

Như thế nghe có quá kịch tính không? Bạn đã không ở đó. Nàng thì đã ở đó mỗi ngày, thăm tôi trong bệnh viện dù tôi có biết hay không, trở thành một chuyên gia về vấn đề y học của tôi, tìm kiếm những khả năng, hỏi nhiều câu hỏi, gọi điện thoại, thậm chí bỏ chút giỏ quà Giáng sinh và Lễ tình nhân cho những y tá của tôi, mà nàng nhớ tên từng người.

Chaz là một phụ nữ mạnh mẽ, chắc chắn về mình. Tôi chưa từng gặp ai như nàng. Vài thời điểm trong thời thơ ấu nàng đã hình thành quyết tâm phải thành công. Nàng sinh ra trong một gia đình lớn ở Bờ Tây của Chicago, và ở trường trung học là một thành viên nỗ lực gặt hái không mệt mỏi. Niên giám của nàng chỉ ra rằng có nàng ở mọi trang, thành viên của mọi thứ từ cộng đồng Danh dự Quốc gia cho đến CLB tiếng Tây Ban Nha, và là phó chủ tịch của lớp vũ công khóa trên cho đến khi thành vũ công giỏi nhất. Nàng thắng một học bổng của Đại học Chicago, nhưng không nhận nó. “Em biết gì chứ? Không ai nói với em rằng đó là một trường tốt. Em chỉ muốn ra khỏi Chicago, đi đến nơi nào đó một mình.” Nàng đã đến Đại học Dubuque, và suốt thời gian là một nhà hoạt động dân quyền.

Ở đó nàng gặp người chồng đầu tiên, và họ sớm kết hôn và nuôi nấng những đứa trẻ Josibiah và Sonia. Nàng dễ dàng tạm dừng ước mơ của mình và trở lại Chicago, nơi Merle làm việc kỹ sư điện. Nàng đến Đại học Wiscosin để học bằng cử nhân xã hội, và sau đó tốt nghiệp trường Đại học luật DePaul, trường cũ của nhiều thế hệ chính trị gia và luật gia ở Chicago. Và suốt thời gian đó vẫn chăm sóc gia đình nàng, khi nàng và Merle dời đến vùng ngoại ô và mua một ngôi nhà. Nàng đã là một luật sư tranh tụng ở Bell, Boyd và Floyd, một công ty quan trọng. Sau 17 năm chung sống, nàng và Merle đã ly dị, nhưng vẫn là bạn bè.

Chúng tôi thích kể với mọi người rằng đã được “giới thiệu bởi Ann Landers,” chính xác là sự thật, mặc dù Eppie Lederer đã không biết nàng vào lúc ấy. Buổi tối tôi dẫn Eppie đến một buổi gặp gỡ mở của AA, chúng tôi quyết định đi ra ngoài ăn tối khi xong việc; đó là lần đầu tiên và duy nhất chúng tôi ăn tối chỉ hai người. Trong nhà hàng, Chaz ngồi ở bàn gần đó bao gồm vài người mà tôi có quen. Tôi không quen nàng, nhưng đã nhìn thấy nàng trước đó và đã bị cuốn hút. Tôi thích bề ngoài của nàng, sự gợi cảm của nàng, và cách nàng thể hiện mình. Nàng đã chuẩn bị rất kỹ về bề ngoài và trang phục của nàng không bao giờ trông như được ghép vội vàng với nhau. Nàng dường như thu hút mọi sự chú ý ở bàn của mình. Bạn không bao giờ tiến xa được với một phụ nữ mà không thể chuyện trò cùng một cách thông minh.

Điều gì đó đã khiến tôi sử dụng một trong những mánh làm quen cũ kỹ nhất trong sách. “Tôi có vài người bạn ở kia, tôi muốn cô gặp họ,” tôi nói với Eppie, và đứng dậy đưa cô ấy qua. Khi màn giới thiệu diễn ra, Chaz cũng bao gồm trong đó. Khi chúng tôi trở về bàn mình, tôi đã có danh thiếp của nàng. Tôi xem xét cái danh thiếp và chỉ nó cho Eppie, cô ấy đã nói rằng, “anh đúng là cáo già.”

Tôi trở về từ LHP Toronto với tấm danh thiếp trong tâm trí. Tôi gọi Chaz và mời nàng tham dự buổi diễn Lyric Opera, mà tôi đã đăng ký một năm trước vì Danny Newman, phụ trách báo chí của Lyric, đã đứng trong văn phòng tôi và nói, “Một người như ông mà không tham gia Lyric, ông phải cảm thấy xấu hổ.” Chaz, mà sau đó cho tôi biết chưa từng mong đợi sẽ nghe gì từ tôi lần nữa, nói rằng, “Thật ra, em đang ở trong đội ngũ nữ của Dàn giao hưởng Chicago. “ Tôi nói rằng tôi thích Giao hưởng, nhưng tôi đã, đằng hắng một cái, đăng ký chỗ ở Lyric vào tối thứ hai. Vở kịch là “Tosca.” Nàng nói rằng đó là vở nàng yêu thích. “Anh có sợ vở đó không?” “Không, “ tôi nói, “sao phải sợ?” Vào lúc đó tôi chẳng biết gì về “Tosca.”

Chúng tôi đi ăn tối sau đó tại một nhà hàng ở Greek Town. Điều gì đó đã xảy ra. Nàng có những phẩm chất thật đặc biệt. Nàng dường như không phải là một “hình mẫu hẹn hò” nhưng cũng tương tự. Nàng biết vị trí của mình, và tôi nhận thấy điều đó thật hấp dẫn. Tôi sẽ đi Los Angeles vài ngày sau, và hỏi nàng đi cùng. Chúng tôi tạo nên một mối liên kết khá nhanh chóng. Đó là điều có thể hiểu được. Tôi đã yêu, tôi nghiêm túc, và đã sẵn sàng thay đổi đời mình. Tôi đã trì hoãn quá lâu. Nàng sống ở tầng 82 của tòa nhà Hancock Center và bắt đầu gửi mail cho tôi hàng ngày, kể cả sau khi chúng tôi gặp nhau sớm hơn cùng đêm trước đó. Những lá thư tình của nàng đầy chất thơ, đầy lý tưởng và giàu cảm xúc. Tôi trả lời như một người đàn ông và một người tình. Là một phóng viên tạp chí, tôi quan sát thấy nàng không bao giờ, chưa từng, mắc lỗi đánh máy-sao chép bao giờ. Tôi đã lưu từng lá thư của nàng cùng với của tôi, và mã hóa lại trên máy tính của mình, khóa trong một file tài liệu nơi tôi không thể chạm tới bởi chương trình và hệ điều hành đã lỗi thời 20 năm. Nhưng chúng ở đó. Tôi không thể ủy thác chúng cho bất kỳ ai ở quầy Apple Genius.

Cuộc sống chúng tôi tiến triển cùng nhau. Một ngày tháng 5 ở liên hoan phim Cannes chúng tôi đã thuê một chiếc xe hơi và lái đến San Remo ở Ý để viếng mộ của Edward Lear, và trên đường về chúng tôi dừng lại ở Monte Carlo và trong khi dùng cafe tôi đã cầu hôn. Vì sao tôi chọn Monte Carlo, một nơi tôi không có ao ước nào được thăm lại? Tôi lẽ ra nên chọn Luân Đôn hay Venice hay Chicago cho điều này. Tôi đã không hề nghĩ đến những thứ ấy. Chúng tôi đang ngồi đó và nói chuyện trong một quán cafe nhỏ sau một ngày vui vẻ và tôi trở nên choáng ngợp với ước muốn được cầu hôn. Chaz ngập đầy trong tâm trí tôi. Nàng khiến tôi phấn khích. Nàng thật hài hước. Nàng đọc một bản tổng kết đời tôi nhanh gọn, hiểu rõ những gì tôi đang làm và làm thế nào tôi làm những điều đó, và sau khi tôi cầu hôn nàng đã từ việc luật sư, vì tôi muốn nàng đi du lịch nhiều hơn khả năng nàng có thể.

Chaz trở thành phó chủ tịch của Công ty Ebert. Đó không phải chỉ là một danh vị. Nàng sắp xếp hợp đồng của tôi, bảo vệ sở thích của tôi, đàm phán, điều chỉnh và thỏa thuận. Tôi không bao giờ hiểu về kinh doanh và không có kiên nhẫn với các cuộc họp kinh doanh hay chi tiết pháp luật. Tôi có điểm yếu trong việc ký kết nọ kia chỉ để tống chúng đi. Nàng nhận thấy điều này, và bảo vệ tôi. Đó là một mối quan hệ đối tác.

Chúng tôi đã có thời gian bên nhau mà tôi sẽ luôn ghi nhớ. Ngay sau kỳ Giáng sinh đầu tiên, chúng tôi đã bay đến Venice, nơi tôi hứa với Chaz sẽ có mưa, lạnh, vắng vẻ, và chúng tôi sẽ có nơi ấy cho riêng mình. Đó là khung cảnh Venice khi lần đầu tôi thấy vào năm 1966, và nó vẫn như thế. Thật lãng mạn, ngủ dậy muộn ở khách sạn Hoàng gia Danelli và thức dậy và làm tình và nhìn ra ngoài kênh Grand Canal. Khách sạn trống đến nửa số phòng, các phòng chỉ là phần nhỏ chi phí mùa hè. Thành phố được bao phủ trong sương mù và luôn ám ảnh. Sự lãng mạn trong mùa đông ở Venice là thân mật và riêng tư, gần như nín lặng. Một đêm chúng tôi đến sòng bạc Municipal, cẩn thận mang theo chỉ đủ số tiền sẵn sẵng để thua, và chúng tôi thua tất. Trong một nhà hàng nhỏ chúng tôi chỉ còn đủ cho món mì spaghetti với hai chiếc đĩa, sau đó thậm chí còn thiếu tiền cho chuyến thuyền về trên kênh. Chúng tôi đã đi bộ về dọc theo con đường qua buổi đêm và lạnh giá, cánh tay lồng vào nhau, những hình dáng ẩn hiện trong sương mù, ánh đèn chiếu lên những khối đá ướt, dừng lại đây đó để hôn và giả bộ trang nghiêm. Đó là một trong những trải nghiệm kết nối một cuộc hôn nhân.

Tại Cannes chúng tôi đã mua một cái bánh mì kẹp thịt gà cho Quentin Tarantino ở một nhà hàng bờ biển, sau khi phim “Reservoir Dogs” thành công nhưng cậu ta thì bị phá sản. Lần kế tiếp chúng tôi gặp cậu ta là sau phim “Pulp Fiction,” khi hãng Miramax đã thuê hẳn một phòng khiêu vũ trong khách sạn Carlton cho cậu. Đó là lần đầu tiên chúng tôi còn nhớ. Một đêm khác, sau khi xem phim “Boyz N the Hood” và bị nó làm choáng ngợp, chúng tôi lái xe ra khỏi thị trấn để ăn tối với John Singleton, còn rất trẻ với rất nhiều kế hoạch. Chaz dường như biết tất cả mọi người và nhớ tất cả những cái tên; tôi thì thường thiếu thực tế hơn mọi người nghĩ.

Chúng tôi đã rất vui vẻ với nhau. Ở Salvador, thủ phủ của Bahia ở Brazil, chúng tôi đã quyết định đi đến một câu lạc bộ đêm nhảy Lambada, và luyện tập điệu nhảy trong phòng khách sạn. Lang thang khắp phố, chúng tôi thấy một tiệm thời trang địa phương và Chaz mua một chiếc váy mùa hè màu trắng cắt ngắn với rất nhiều diềm xếp. Nàng trông hết sức quyến rũ khi chúng tôi rời khách sạn. Khi đi đến câu lạc bộ, một sự im lặng lạ thường xuất hiện. Điều gì đó không ổn. Mọi người dường như mỉm cười vì lý do sai lệch nào đó. Một nữ hầu bàn nói tiếng Anh tỏ vẻ thông cảm cho chúng tôi, và giải thích bộ váy là trang phục truyền thống dành để tham dự các đám rước. Diện nó vào một câu lạc bộ đêm giống như tôi đang mặc đồ của Chú Sam.

Ở Luân Đôn, chúng tôi ở tại số 22 đường Jermyn, trước là toà nhà Eyrie. Chaz kéo tôi vào phong cách nghệ thuật đương đại. Tôi bắt đầu sưu tầm các bức tranh màu nước của Edward Lear vào thập kỷ 80, nhưng sau khi dọn vào ngôi nhà phố với bức tường trống rộng hơn, chúng tôi có thể nghĩ đến những bức tranh lớn hơn. Trong nhà trưng bày Purdy-Hicks ở South Bank, nơi chúng tôi đến để nhìn các tác phẩm của bạn mình David Hiscock, chúng tôi thấy một tấm vải rộng trong phòng lưu trữ và phát hiện cả hai đồng thời nhận ra nó. Đây là của Gillian Ayres, một người theo chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng dữ dội, người đã phủ kín một khoảng không lớn với lối vẽ đắp. Đây là tác phẩm được gợi cảm hứng từ liên hoan diều ở Ấn Độ, và năng lượng toát ra từ nó tràn ngập căn phòng. Vài năm trước chúng tôi đã mua về 5 tác phẩm của Ayres, và thậm chí cùng dùng bữa tối với cô một đêm ở câu lạc bộ Groucho, nơi không khí hào nhoáng phù hợp với quê nhà Luân Đôn của cô vào thập niên 50.

Niềm vui lớn nhất đến từ những chuyến đi hàng năm chúng tôi thực hiện với các cháu Raven, Emil và Taylor, và cha mẹ chúng Sonia và Mark. Josibiah và con trai Joseph đến tham gia trong một chuyến, nơi chúng tôi đi theo đường riêng từ Budapest đến Prague, Viên và Venice. Chúng tôi đã đi cùng gia đình Evans đến Hawaii, Los Angeles, Luân Đôn, Paris, Venice, và Stockholm. Chúng tôi đã đi trên những con đường cổ xưa từ Cambridge đến Grantchester. Emil thông báo rằng với nó không gì sánh bằng việc được thức dậy thật sớm, và mỗi buổi sáng hai ông cháu sẽ gặp trong một sảnh khách sạn và đi dạo đường dài cùng nhau. Tôi mang theo một chiếc máy quay. Buổi sáng nọ ở Budapest nó nhờ tôi chụp một bức ảnh hai người đang đi trước chúng tôi và đang tay nắm tay.

“Vì sao lại chụp họ?”

“Vì họ nhìn thật hạnh phúc.”

Ít nhất tôi có thể phô bày những bí mật thành phố của tôi. Tôi đã đủ hạnh phúc để trôi dạt qua nhiều năm cô đơn và đơn độc qua các thành phố xa lạ, nhưng vui hơn rất nhiều khi cùng với gia đình. Một phẩm chất mà trẻ con có được đó là khả năng cảm thấy như ở nhà dù ở bất kỳ đâu, ở nhà hàng, rạp hát, bảo tàng. Chúng luôn chăm chú và hấp thu mọi thứ. Chúng đã được nuôi dạy tốt.

Những khoảng thời gian đó dường như quí giá hơn giờ đã ở lại quá khứ. Tôi không còn đi lại dễ dàng nữa. Khi chúng tôi làm đám cưới tôi đã nói với Chaz vào năm 1987 rằng tôi có một khối u tuyến nước bọt đã bị cắt đi. Bác sĩ tốt bụng Schlichter đã quan sát ca phẫu thuật và nói rằng, “Họ đã lấy đi hết rồi. Đến hạt u cuối cùng.” Nhưng tôi được cảnh báo rằng bệnh ung thư của mình phát triển chậm và lén lút, và có thể trở lại nhiều năm sau. Đó là điều đã xảy ra, và nó biến thành thực tế tất cả các khó khăn hiện tại của tôi.

Tôi đã kể rằng Chaz đã trở thành chuyên gia như thế nào trong việc chăm sóc tôi. Giờ tôi phải kể cho bạn nghe về tình yêu của nàng. Trong bệnh viện, ngày qua ngày, nàng là đội ngũ sức mạnh của tôi. Trong quá trình phục hồi thể chất, nàng đã cổ vũ tôi qua từng bước loạng choạng, và khi tôi nhìn vào ba bước chân tôi đã dự định leo lên, chính ý chí của nàng đã giúp tôi cất bước. Đến thăm một bệnh viện đã chẳng là điều dễ chịu. Làm điều đó hàng trăm lần là một người hùng.

Chương trình truyền hình đã sử dụng “khách mời cùng dẫn” và Richard Roeper đã giúp tôi giữ pháo đài. Nhưng sau ca phẫu thuật đầu tiên thất bại và tôi suýt chết, hẳn đã phải rõ ràng với nàng rằng những ngày lên TV của tôi đã hết. Nàng không bao giờ chấp nhận điều đó. Nàng có niềm tin, nàng động viên tôi, sự hiện diện của nàng cho tôi sức mạnh. Nàng đưa những người bạn của mình đến gặp tôi. Studs Terkel đến vài lần. Cha Andrew Greelay đã đầy cổ vũ và lạc quan. Nàng mang đến McHugh và Mary Jo, Gregory Nava, Jon và Pamela Anderson, vợ thị trưởng Maggie Daley, nữ diễn viên Bonnie Hunt (người đã từng là y tá khoa ung thư ở Northwestern). Chaz đã trở thành bạn với người chữa bệnh Caroline Myss, và đưa cô ấy đến tận giường của tôi để gợi lên những suy nghĩ tích cực. Tôi đã không và sẽ không bao giờ tin vào kiểu chữa bệnh ấy, nhưng tôi chỉ thấy tốt đẹp trong cảm giác nó mang lại. Tôi không còn theo tôn giáo, nhưng mỗi ngày Chaz nắm lấy tay tôi trước khi rời khỏi và đọc lời Thánh thi số 23 và những lời cầu nguyện, và tôi có được sự thoải mái từ điều ấy.

Sau khi tôi được phép về nhà lần đầu tiên, Chaz đã quyết định tôi đã sẵn sàng cho Trung tâm kéo dài tuổi thọ Pritikin gần Miami. Chúng tôi đã đến Pritikin, lần đầu ở Santa Monica và sau đó là Florida, từ trước khi làm đám cưới, và học thuyết của họ về ăn kiêng và luyện tập trở thành sách phúc âm đối với tôi (thỉnh thoảng vi phạm nhiều hơn là tuân thủ). Tôi đã có nhiều năm là người đi bộ nhiệt tình, nhưng giờ đây, sau khi phục hồi, tôi đang sử dụng chiếc xe đẩy và nó đi thật chậm.

Tôi đã không thể ăn phần lớn chế độ ăn chay ở Pritikin, nhưng Chaz biết các đầu bếp sẽ pha trộn một chế độ ăn uống nhiều chất lỏng để bổ sung dinh dưỡng. Nàng cũng thông báo với tôi rằng tôi sẽ đi bộ, luyện tập, và sẽ thấy rất nhiều ánh dương. Vì hầu hết ghế ngồi đều mang đến đau đớn, Pritikin tìm cho tôi một cái ghế ngả xoay mặt về chiếc TV lớn. Tôi đã mang theo rất nhiều sách. Tôi hé mở những cánh cửa trượt và một làn gió thơm ngát thổi vào, và tôi hoàn toàn hạnh phúc, trọn vẹn với việc được ở yên như thế mãi. Nhưng không thể được. Chaz ra lệnh cho tôi đứng trên đôi chân mình vào buổi sáng và đi bộ buổi chiều, với những người chăm sóc đi theo sau lưng tôi với xe lăn. Tôi bước đi xa như tôi nghĩ mình có thể, và Chaz sẽ chọn ra một mục tiêu xa hơn để hướng đến. Nàng không hề ngừng nghỉ.

Trong phòng tập mỗi ngày tôi trải qua 20 phút trên máy chạy bộ và sau đó luyện tập với tạ và tấm vải tập luyện. Sau phòng tập nàng đưa tôi ra ngoài để ngồi dưới ánh mặt trời khoảng nửa tiếng. Nàng giải thích làm thế nào Vitamin D tự nhiên sẽ giúp làm xương tôi cứng cáp, khi chúng đã suy yếu trong quá trình suy thoái cơ bắp sau vài tuần nghỉ ngơi hậu phẫu. Tôi bực bội với sự động viên không ngừng của nàng. Tôi đã lười biếng. Chưa bao giờ thoải mái hơn với việc được ngồi và đọc. Nhưng nàng đã khiến tôi phải làm điều đúng đắn.

Nàng làm đi làm lại điều này ngay sau ba chuyến đi kế tiếp của tôi đến Viện Phục Hồi Thể Chất. Bốn lần tôi học cách bước đi trở lại, và mỗi lần nàng đều đưa tôi đến Pritikin hay viện Rancho La Puerta ở Tecate, Mexico, nơi tình yêu của tôi lớn lên. Tôi đã dừng chiếc xe lăn, không còn dùng xe đẩy, tôi đã bước đi, không nhanh hay đi cả dặm, nhưng bước đi. Và nhận thêm Vitamin D. Ở nhà, chúng tôi đi vòng quanh nhà hàng xóm và xuống tới tận hồ Lily ở công viên Lincoln. Chúng tôi bắt đầu đi lại các buổi ra mắt phim. Nàng tìm thấy bác sĩ Mark Baker, một nhà trị liệu thể lực, để thường xuyên luyện tập với tôi.

Không hề là điều dễ chịu nhất trên đời để lê bước theo trong khi tôi đi thật chậm. Nàng hẳn đã ước rằng chúng tôi có thể đi du lịch nước ngoài nhiều hơn. Khi nàng nghĩ rằng tôi đã sẵn sàng, nàng đưa tôi về lại Luân Đôn và Cannes, và mỗi mùa thu đến liên hoan phim Toronto. Tôi biết nếu chỉ một mình tôi hẳn sẽ ở tại nhà trong chiếc ghế “thư giãn-cái-lưng” của tôi. Rằng tôi vẫn hoạt động, đi đến nhiều nơi, di chuyển, có sức khỏe tốt, là chính nhờ có nàng.

Chúng tôi đã lên kế hoạch cùng nhau sản xuất một chương trình sẽ tiếp tục truyền thống của Siskel & Ebert & Roeper. Chaz làm tất cả công việc nặng nhọc đề nghị, đám phán, ký hợp đồng. Chúng tôi sẽ là đồng sản xuất, nhưng tôi nói với nàng rằng nàng được sinh ra cho công việc này. Nàng lặp đi lặp lại với tôi rằng tôi cần xuất hiện nhiều hơn nữa trong chương trình, kể cả với giọng nói được máy tính lập trình của tôi. Bản năng của tôi là tự bảo vệ mình. Tôi có thể không bao giờ ở trong chương trình như đã từng. Nàng nói, “phải, nhưng mọi người yêu mến những gì anh nói, chứ không phải cách anh nói chúng.” Điểm chính không phải ai trong chúng tôi đúng. Điểm chính là nàng đang động viên tôi. Nàng có niềm tin vào tôi hơn chính tôi.

Tôi đã cảm thấy từ lần đầu tiên gặp gỡ rằng Chaz là người phụ nữ tôi sẽ cưới, và tôi biết sau 20 năm rằng cảm giác của tôi là thật. Nàng đã ở cùng tôi trong bệnh tật và trong khỏe mạnh, chắc chắn nhiều bệnh tật hơn chúng tôi chờ đợi. Tôi sẽ ở cùng nàng, được củng cố sức mạnh từ tấm gương của nàng. Nàng tiếp tục khiến cuộc đời tôi thành có thể, và sự hiện diện của nàng lấp đầy tôi với tình yêu và sự bảo vệ sâu sắc. Đó là điều định nghĩa một cuộc hôn nhân. Giờ tôi đã biết.

Trích từ hồi ký của tôi, “Life Itself.”

 

Quên mật khẩu

Đăng Ký