The Double (2013) Cú Chạm Nhẹ Vào Những Tâm Hồn Lạc Lối

Bình Luận Phim Phim Đương Đại Toàn Bộ Phim
8

Hay

9.3

Điểm bạn đọc

Khoảng thời gian vài năm trở lại đây, khán giả đại chúng sử dụng một thuật ngữ mới cho những bộ phim có phần “khó hiểu”: Mindf*ck movies (giả sử tôi không nhầm thì ở Việt Nam người ta  gọi chúng là “phim hại não”).

Nếu như Mulholland Drive của David Lynch tận dụng phông nền siêu thực làm chủ đạo khiến người xem phải phân vân giữa thực và mơ kèm theo đó là những chi tiết ẩn dụ sâu sắc; Inception đề cập tới một loạt lý thuyết khoa học mà chính Nolan đặt ra tạo nên một chủ đề thú vị tranh cãi suốt hàng năm trời trong bộ phận khán giả thì ở The Double, đó là sự kết tinh của hệ tư tưởng triết học hiện sinh về bản chất con người và công cuộc đấu tranh khai phá cái tôi ở từng cá thể. Bộ phim được xây dựng từ cuốn tiểu thuyết gốc của đại văn hào Fyodor Dostoyevsky, ông là người có ảnh hưởng rất lớn đến Friedrich Nietzsche và Jean-Paul Sartre – hai triết gia hiện sinh vô thần vô cùng nổi tiếng. Mọi thứ đều bắt đầu từ Simon James – nhân viên lâu năm của một nhà máy cũ. Anh sống cuộc đời mệt mỏi và căm ghét nó nhưng không biết phải làm gì. Một công việc giấy tờ nhàm chán, một ông chủ tận dụng tối đa thời gian chỉ để liên hồi những lời vô nghĩa với nhân viên của mình, một người mẹ bị bệnh nặng coi anh như đứa con dị hợm, một môi trường xung quanh ô nhiễm – nơi tất cả mọi người đều chà đạp lên Simon. Niềm an ủi duy nhất của gã đàn ông bất hạnh này có lẽ là cô gái ở dãy nhà đối diện, Hannah – người mà anh luôn thầm quan sát qua những khung cửa sổ. Điều đáng buồn là dù họ làm cùng cơ quan và chạm mặt nhau mỗi ngày nhưng thậm chí cô chưa từng nhận ra anh. Cho tới một ngày, tình cờ xuất hiện trước mặt Simon một kẻ có ngoại hình giống hệt anh nhưng trái ngược hoàn toàn về tên gọi cũng như tính cách….

Như một lẽ dĩ nhiên, triết học từ xưa đến nay luôn được coi là ngành khoa học mang tính trừu tượng cao,và để thể hiện những thứ mơ hồ đó thật hoàn hảo đòi hỏi bàn tay khéo léo của người đạo diễn. Dĩ nhiên tôi tin rằng lần này Richard Ayoade và những người cộng sự đã hoàn thành tốt công việc của mình. Ấn tượng đầu tiên đối với mỗi khán giả khi hướng lên màn hình không phải nội dung của bộ phim mà chính là những trải nghiệm về thị giác. The Double có lối sử dụng ánh sáng vô cùng độc đáo, không cần những cú lia máy chóng mặt nhưng không gian bao quanh nhân vật luôn thay đổi sắc độ một cách tự nhiên, từ những chuyến tàu điện ngầm mập mờ tới dọc hành lang trải dài của khu chung cư. Có những khung hình hướng vào cùng một khuôn mặt, nhưng nguồn sáng đến từ mỗi hướng khác nhau lại đem lại cái nhìn và cảm xúc chẳng giống nhau. Nếu để ý một chút ta sẽ thấy Ayoade sử dụng 3 màu sắc chính suốt bộ phim đồng thời cũng là 3 màu cơ bản. Mỗi tông màu lại dính chặt với một nhân vật riêng. Simon luôn xuất hiện dưới ánh sáng vàng u uất trầm lắng, khiến anh nhìn lúc nào cũng mỏi mệt thiếu sức sống. Hannah thì gắn chặt vào màu xanh buồn bã trước ngưỡng cửa, từ ánh đèn từ máy photocopy hay chiếc áo len mà cô thường mặc mỗi khi ra ngòai. Màu đỏ xuất hiện không nhiều nhưng đóng vai trò điểm nhấn tại những phân cảnh của James, cũng như chính con người anh nồng nhiệt và mạnh mẽ,sẵn sàng tung ra một cú húc đầu dứt khoát vào kẻ thích gây sự. Không chỉ làm tốt ở phần nhìn mà phần nghe cũng là thành quả của một quá trình chọn lọc, mảng soundtrack khiến tôi cực kỳ ấn tượng, đầu tiên phải kể đến những  bản nhạc nền không lời rất phù hợp với tông chủ đạo được thiết lập từ trước, là những nốt piano trầm lắng hay tiếng kéo violin da diết; kế đó là các ca khúc được chọn lọc bởi chính tay đạo diễn. Điểm thú vị ở chỗ The Double là một bộ phim Mỹ nhưng Ayoade lại sử dụng phần nhiều các tác phẩm có xuất xứ từ Nhật Bản và Hàn Quốc những năm 50 -60 vì theo anh, âm nhạc Châu Á không cần khoa trương mà vẫn gợi lên được điều gì đó đầy hoài niệm về một thời vang bóng.

1

Ánh sáng trong phim được sử dụng rất tinh tế

Quay trở lại với nội dung bộ phim, nhân vật của Jesse Eisenberg được phác họa ban đầu như một kẻ rụt rè và luôn cố gắng làm hài lòng người khác. Anh sẵn sàng đứng dậy khi được yêu cầu nhường ghế trên chuyến tàu không người bởi một gã lạ mặt. Vài phút sau thì làm mất chiếc cặp đựng đồ của mình cũng chỉ vì tiếp tục dành cánh cửa cho 2 người vận chuyển hàng hóa. Ở quán cà phê, Simon chẳng buồn phàn nàn sau khi được người phục vụ bưng tới một ly rượu với màu xanh lạ hoắc thay vì nước cam như đã gọi. Anh cũng thường bị một nhân viên cùng cơ quan trách móc vì tất cả những gì có thể làm là liên tục đưa ra những lời xin lỗi.  Tâm lý học gọi đó là hội chứng gã tốt bụng (nice guy syndrome), và những người mắc phải hội chứng này đều cố che dấu nét yếu đuối bên trong tâm hồn, một sự lo âu mỏng manh chỉ chờ thời cơ để tan vỡ.

“Tại sao cậu vẫn chưa có bạn gái?”

“Tôi không biết nữa.”

“Cậu là một kẻ đồng tính sao?”

“Không, tôi đang nghĩ về một cô gái. Rất nhiều.”

“Như một thứ ảo ảnh vớ vẩn?”

“Không, đó là một người thực.”

“Vậy vấn đề là gì?”

“Tôi cũng không biết nữa, có hàng tá thứ tôi muốn thổ lộ…Ví dụ như tôi có thể nói rằng cô ấy là một người cô đơn ngay cả khi người khác không thể. Vì tôi biết cảm giác khi lạc lối,cô đơn và trở nên vô hình.”

“Simon, cậu phải theo đuổi những gì mình muốn. Tôi có thể xé mông một con voi ra thành từng mảnh nhỏ nếu tôi phải làm vậy.”

“Tôi đã cố thử bắt chuyện với cô ấy nhưng tôi không biết làm thế nào để vẫn là chính mình. Như thể tôi đã vĩnh viễn rời khỏi bản thân. Giống như cậu có thể đưa bàn tay xuyên qua tôi nếu như cậu muốn.Tôi không thể thấy sự đấu tranh giữa người đàn ông tôi muốn trở thành với gã đang thực sự là chính tôi và tôi biết mình đang cố gắng làm việc đó vì tôi không thể làm những điều cần phải hoàn thành.Tôi giống như Pinocchio, một chú nhóc bằng gỗ, không phải con người thật. Và điều đó giết chết tôi.”

Bảy năm làm việc trong một nhà máy nhỏ nhưng người bảo vệ không nhớ nổi khuôn mặt của Simon. Những người đồng nghiệp của anh đều mang ngoại hình già nua của một ông lão 60 tuổi và cặm cụi vào bàn giấy như cỗ máy được lập trình dưới một bầu không khí ngột ngạt. Họ dường như không nói, với người xung quanh, thậm chí với chính bản thân mình. Những hình ảnh đó được đặt ra như một phép ẩn dụ cho vấn đề của Simon, ngay từ đầu anh đã không thuộc về nơi này. Chính quãng thời gian chôn vùi ở nơi u ám đó đã khiến anh quên mất mình là ai, khép lại trong một vỏ bọc nhút nhát và từ chối tất cả , từ chối người con gái đã khiến anh rung động. Giống như sắp đặt của định mệnh Simon tình cờ gặp Hannah rất nhiều, trên chuyến xe điện, trong cầu thang máy, tại văn phòng riêng của cô, nhưng mỗi lần như vậy anh chỉ biết im lặng hoặc ấp úng thốt lên một từ: “Copy”. Cái chết của một gã đàn ông lạ mặt giúp Simon có cơ hội lần đầu tiên trò chuyện với Hannah thẳng thắn như một người bạn, và những tưởng như đó là dấu hiệu của một sự khởi đầu tốt đẹp thì ngay sau đó anh bị tống cổ khỏi bữa tiệc của  cơ quan trong nỗi nhục nhã với món quà trên tay chưa thể mang tặng. Đã qua rồi cái thời của Descartes “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”, tiếng hét “Đây không phải là tôi” của Simon cũng không cứu vớt anh khỏi thực tại đầy mơ hồ – vô hình trong mắt mọi người. Chính biến cố vào cái đêm hôm đó đã khiến anh đưa ra quyết định vô thức kỳ lạ, mường tượng ra một bản sao hoàn chỉnh.

James chính là hình mẫu Simon muốn trở thành, giống như Tyler Durden trong Fight Club, một kẻ tự tin, bạo dạn, biết cách ăn nói và quyến rũ người khác giới. Chính lối dẫn chuyện tinh tế của đạo diễn đưa khán giả vào tình trạng mơ hồ với những câu hỏi hóc búa tự đặt ra cho bản thân, đâu là thực, đâu là giả định, liệu có phải tất cả những gì xảy ra kể từ bữa tiệc đêm hôm ấy chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của Simon? Từ khi James xuất hiện, dường như cuộc sống của Simon trở nên tươi đẹp hơn. Anh có thể hoàn thành nhiều công việc được giao một lúc, anh học cách tự bảo vệ bản thân trước những sự thúc ép hằng ngày và trên hết, Simon tìm được một người bạn để có thể giãi bày tâm sự. Lãnh chúa Byron – một triết gia ngày xưa từng nói rằng giữa thiên nhiên, trong rừng cây, trên cánh đồng cỏ, bên cạnh hồ, ông không bao giờ cảm thấy cô đơn, chỉ trong thành phố, giữa những con người. Có lẽ nỗi cô đơn của Simon cũng vậy, một sự lẻ loi với hàng nghìn câu chuyện muốn kể nhưng lại chẳng tìm được ai sẵn sàng lắng nghe và James, lúc này đây đóng vai trò một kẻ tri âm tri kỷ. James chỉ cho Simon cách gây dựng sự chú ý với Hannah, thậm chí còn tạo điều kiện để 2 người có một cuộc hẹn hò không chính thức. Vậy nhưng vẫn như mọi lần, Simon hoặc im lặng, hoặc nói linh tinh về một vấn đề nào đó.

James – bản sao hoàn chỉnh của Simon

James – bản sao hoàn chỉnh của Simon

Mọi chuyện trở nên đảo lộn khi Simon dần nhận ra James không phải một gã hoàn toàn như mình nghĩ, khởi đầu tốt đẹp chỉ là một bàn đạp cho một sự lừa dối. Hắn ta cướp lấy công sức lao động của  Simon để gây ấn tượng với ông chủ, hắn còn đe dọa và lợi dụng anh cho những mục đích của bản thân, và điều khiến Simon buồn nhất có lẽ là việc James chiếm lấy cảm tình của Hannah thông qua chính cảm xúc và câu chuyện của anh.

“Cậu không còn tồn tại nữa.

“Tôi xin lỗi?”

“Cậu không còn ở trong hệ thống.”

“Vậy thì cứ đưa tôi trở lại.”

“Tôi không thể đưa cậu quay lại hệ thống.”

“Tại sao?”

“Bởi vì cậu không tồn tại, tôi không thể đưa một người không tồn tại vào hệ thống.”

“Nhưng tôi đã từng ở đó.”

“Không, theo như hệ thống. Sự thật là, hệ thống nói rằng cậu chưa từng tồn tại.”

“Nó có đáng tin cậy?”

“Cực kỳ đáng tin cậy.”

“Đúng, nhưng tôi từng tồn tại. Tôi tồn tại, chẳng phải tôi đang đứng ngay giữa căn phòng này sao?”

“Và?”

“Làm cách nào để tôi quay trở lại hệ thống.”

“Cậu cần một cái thẻ.”

“Phải, làm ơn đưa cho tôi một cái thẻ.”

“Tôi không thể.”

“Tại sao?”

“Tại vì cậu không ở trong hệ thống.”

Một đoạn hội thoại tưởng như nhảm nhí bởi câu chuyện con gà và quả trứng nhưng lại là minh chứng rõ ràng về sự bế tắc của Simon. Cả cuộc đời tồn tại như một cái xác không hồn, vật vờ trong xã hội xây dựng nên từ những điều giả dối khiến Simon bị ăn mòn và chảy theo chúng. Anh là anh nhưng lại không phải anh. Hiện hữu có trước bản chất, bản chất đến tự sự sáng tạo trong hành vi của con người, Simon đứng giữa căn phòng ngay lúc này đây nhưng không hề tồn tại. Giây phút biết mình bị phủ nhận hoàn toàn cũng là khoảnh khắc trong lòng anh nhóm lên một ngọn lửa bùng cháy, anh tin rằng mình phải hành động, không thể cứ đứng yên và chờ mọi thứ xảy đến theo cách tốt đẹp nhất. Bắt đầu bằng việc đối đầu với James cùng tất cả những lão già máy móc tại nơi làm việc, kế đến là một cũ đấm không do dự vào mặt của kẻ mạo danh ở tang lễ của mẹ. “Tao là con người, tao tồn tại” – Simon đã hét lên như thế. Anh cứu Hannah khỏi một lần tự sát, mặc cho cô nguyền rủa để rồi sau đó nhận ra Simon là người thầm lặng giúp cô giữ gìn những mảnh ký ức.

“Tôi không muốn làm một cậu bé bị giữ bởi sợi dây”

Hơn 70 năm trước Jean-Paul Sartre đưa ra một mệnh đề: “Tôi chỉ hiện hữu khi tôi ngừng hiện hữu”, và triết lý của Phật giáo về sự tái sinh cũng bắt nguồn từ cái chết.. Simon biết điều này, anh biết cuộc đấu tranh giữa gã đàn ông anh muốn trở thành và bản chất thực sự của anh chỉ chấm dứt khi một trong hai bên đưa ra quyết định dứt khoát. Anh  đứng trên thềm cửa sổ, nhìn thẳng về phía căn hộ của mình, nhìn thẳng vào James. Cái vẫy tay nhẹ nhàng như một lời từ biệt dành cho những thứ kìm hãm anh suốt cả cuộc đời nhưng đồng thời cũng là lời chào tới một tự do mới. Tự do của Simon không giống như Christopher McCandless trong Into The Wild tức là vứt bỏ mọi thứ để hòa mình với thiên nhiên, tự do của Simon trừu tượng và lí trí hơn, bung mình ra khỏi những phép tắc của xã hội và tư tưởng về những gì không có thật. Anh gieo mình xuống đất, nghe tiếng thở của những cơn gió và rồi kết liễu sản phẩm của mộng tưởng, để hắn nằm đó chết trong cô độc, chôn vùi mãi mãi. Trường đoạn cuối phim hình ảnh vị đại tá hiện lên một cách tình cờ.

“Không có nhiều người giống như cậu, phải không Simon?”

“Tôi nghĩ rằng mình là một kẻ đặc biệt.”

Lời thoại vừa dứt, đôi mắt của Simon đảo quanh một vòng bất thình lình chằm chọc vào khán giả như một cái soi vào tận thâm tâm để âm thầm thủ thỉ: “Này, tới lượt bạn đấy”.

Jesse Eisenberg chưa bao giờ được đánh giá cao bởi khán giả đại chúng vì anh tham gia cả dòng phim giải trí lẫn những dự án độc lập trong khi tài năng của anh chỉ thực sự được bộc lộ trong những tác phẩm không nhiều người. Không phải một diễn viên theo trường phái method acting nên người ta ít thấy  Jesse có những thay đổi đặc biệt về ngoại hình tới mức không nhận ra như Daniel Day Lewis, Christian Bale hay Jared Leto…và thường gắn cho anh các mác “một màu”. Cá nhân tôi thì không thấy như vậy,  đúng là phạm vi của Jesse Eisenberg nhỏ hơn so với một số đồng nghiệp, nhưng không hề thiếu sự đa dạng. Chúng ta có một cậu bé rắc rối trong The Squid and The Whale, một gã thiên tài trầm lặng trong The Social Network – vai diễn mang lại cho anh đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải Oscar lần thứ 83, một kẻ tưng tửng ở Zombieland hay American Ultra và đối với The Double, anh thể hiện xuất sắc hai tính cách trái ngược trong một con người. Tôi thích cách anh dựa vào ghế trên chuyến tàu điện ngầm, đôi mắt nhìn vào khoảng không vô định và nhẹ nhàng đưa bàn tay ra phía trước kèm theo giọng nói trầm lặng. Phải khẳng định rằng nếu như không có màn thể hiện đó thì bộ phim của Ayoade chưa chắc đã đạt được ý đồ mà tác giả mong muốn.

Jesse Einsenberg khiến người ta quên đi gã tỷ phú trong The Social Network

Jesse Einsenberg khiến người ta quên đi gã tỷ phú trong The Social Network

Tựu chung lại, The Double không phải là một bộ phim dễ xem vì lối kể chuyện không thuần tuyến tính và bản thân tác phẩm lại là sự kết tinh của một hệ thống tư tưởng còn khá xa lạ với phần đông khán giả đại chúng. Tuy nhiên tôi nghĩ nó xứng đáng với một cơ hội, nhất là đối với những ai vẫn đang mơ hồ tìm kiếm lối đi cho bản thân. Bộ phim chắc chắn mang lại cho bạn những trải nghiệm mới lạ và thú vị từ thị giác, thính giác cho tới những lý tưởng bị cất giữ thật sâu trong tâm trí.

Theo tôi, The Double đã mang trên mình tông màu đẹp nhưng nặng nề; cũng có thể do khuôn mặt thẫn thờ và mệt mỏi trên chuyến tàu điện ngầm của Jesse Eisenberg thực sự gây ám ảnh tới người xem; hay một lý do khác tôi có thể nhào nặn ra nếu bị ép buộc đó là cả tác phẩm giống như một tấm gương tráng bạc cuốn lấy tầm mắt, để rồi tận sâu bên trong ta chợt bắt gặp hình ảnh phản chiếu của bản thân đang bị xé toang và phơi bày trần trụi.

Tổng kết

Lần thứ hai xem lại The Double (2013) và vài khoảnh khắc vẫn khiến tôi khóc như một đứa trẻ
8

Hay

Quên mật khẩu

Đăng Ký