The Phantom Of The Opera (2004) Tiếng Hát Thiên Thần Và Mối Tình Vĩ Đại Của Bóng Ma

Bình Luận Phim Phim Đương Đại

Kinh đô Paris nước Pháp năm 1919 sau khi khánh thành tháp Effiel vài năm, Nhà hát quốc gia tổ chức đấu giá công khai để phá hầm nhà hát, công tước Vicomte de Chagny và Madame Giry đã gặp lại nhau và họ đã nhìn thấy chiếc hộp nhạc con khỉ và chiếc đèn chùm lớn, báu vật âm nhạc bị lãng quên dưới tầng sâu của nhà hát, nơi chứa đựng một bí mật kinh hoàng và nỗi đau không thể nào quên của cả hai. Một sự kiện gây chấn động xảy ra tại nhà hát năm 1870, hàng trăm khán giả của nhà hát đã chứng kiến người đàn ông bí ẩn được gọi là Phantom (Gerard Butler) với tiếng hát điều khiển cả vũ trụ và linh hồn con người đang cố sức giành lấy nữ ca sĩ chính – Christine Daane (Emmy Rossum), nàng là tình yêu và là lẽ sống của anh. Sự kiện chấn động đó đã gây ra cuộc náo loạn lịch sử và trở thành câu chuyện được kể lại nhiều nhất của Paris cho đến nhiều năm sau.

Một con người đáng thương nhất là khi bị chối bỏ và quên lãng, Phantom (Bóng ma) là một nạn nhân của xã hội Paris hoa lệ, nơi người ta ưa chuộng phục sức diêm dúa. Họ từ chối một người vì vẻ bên ngoài hơn là vì tài năng và nhân cách của người đó. Nỗi đau vì bị xua đuổi đã dẫn đến nỗi căm thù và lòng nghi kỵ với mọi người xung quanh. Tìm được nơi trú ẩn an toàn trong tầng hầm của Nhà hát Opera tại Paris. Dần dần qua năm tháng, trong nhà hát xuất hiện lời đồn đại về bóng ma bí ẩn, thường thoắt ẩn thoắt hiện và có những tiếng hát vang vọng thăm thẳm từ bóng tối. Người đàn ông này có thể sáng tác những bản nhạc có sức lay động triệu triệu con tim, có thể khiến cho khán giả khóc lóc, giận giữ hay vui sướng. Sở hữu một vương quốc bí mật nằm kế con hồ nhỏ nơi tầng hầm nhà hát, nơi đây Phantom có rất nhiều sách, nhạc cụ cùng những bản nhạc được sáng tác cho các vở diễn. Phantom, với kiến thức phong phú và trái tim nhạy cảm dành cho âm nhạc, nhưng lại sống một cuộc đời trong bóng tối và chứa đầy bão lửa đau đớn.

Một lần nọ, cô bé mồ côi Christine được Madame Giry dẫn về nhà hát, cha của cô bé là một nhạc sĩ vĩ cầm tài ba. Thừa hưởng dòng máu âm nhạc thiên phú, Christine sở hữu một trái tim đa cảm và biết thổn thức theo tiếng đàn. Hằng đêm, tiếng ca từ bóng tối của một người đàn ông chưa bao giờ xuất hiện đã dạy cho Christine những nốt nhạc đầu tiên, giúp tiếng hát của cô bay xa hơn. Cho đến khi cô bé 18 tuổi, tiếng hát như thiên thần đã giúp cô trở thành nữ ca sĩ chính của nhà hát và bắt đầu nổi tiếng khắp Paris. Bóng ma, “người thầy” âm nhạc, tựa như thiên sứ được gửi xuống trần gian để trao cho Christine món quà vô giá mà không có ca sĩ nào có được, đó là tiếng hát trong veo và tâm hồn trong sáng như pha lê, anh đã yêu cô và trao trọn con tim của mình cho nàng. Mỗi đêm khi đến thăm Christine, Phantom đều để lại một cành hoa hồng được cột với ruy băng đen. Bi kịch lần thứ 2 trong đời khi Bóng ma biết yêu, bởi Christine đã từ lâu lại dành tình cảm cho bá tước Raoul (Patrick Wilson). Nỗi lòng mang tên tuyệt vọng khi tình yêu không được đáp trả, nỗi hận thù bủa vây, Bóng ma quyết tâm phải dành lại Christine bằng mọi giá, bằng cách đương đầu với Raoul và hàng nghìn khán giả có mặt trong nhà hát đêm nhạc của Christine. Tình yêu cuồng si đã che mất lý trí, Phantom đã tìm cách bắt cóc Christie để đưa cô đến nơi ở của mình, cạnh một chiếc hồ ngầm ở tầng hầm thứ bảy, cũng là tầng hầm sâu nhất của nhà hát Opera. Raoul không ngần ngại bóng tối và hiểm nguy, chàng chạy theo để cứu người tình của mình. Và Phantom đã buông tha cho họ. Cùng lúc đó, cảnh sát và nhiều người khác đang chạy theo để truy bắt chàng với hàng trăm ngọn đuốc sáng rực. Hoảng sợ và tuyệt vọng, Phantom đã lui vào nơi duy nhất còn lại của nhà hát, nơi bóng tối bao phủ toàn bộ và sẽ không có ai tìm thấy mình. Christine, trước khi rời đi đã trao trả lại chiếc nhẫn và nụ hôn từ biệt dành cho Phantom. Sau đó, người ta tìm thấy dưới tầng hầm có những kỷ vật anh để lại: chiếc hộp nhạc hình con khỉ chơi bản Masquerade, tượng sáp của nàng Christine và những bản ghi chép của vở kịch Hanibal. Từ đó về sau, người ta không còn nghe đến Phantom và những bản nhạc của anh nữa. Một ngày nọ, cụ Raoul sau khi bước ra khỏi nhà hát từ phiên đấu giá, đã nhìn thấy trên mộ của Christine xuất hiện một bông hoa đỏ thắm và chiếc ruy băng đen.

Bóng ma nhà hát

Phantom, hình tượng một người đàn ông bí ẩn có gương mặt dị dàng, vốn được lấy cảm hứng từ một truyền thuyết có thật. Trong văn chương, Bá tước Dracula, quái vật Frankenstein hay Phantom, cả ba đều được biết đến là những nhân vật lạ lùng, trí tuệ thông thái nhưng có ngoại hình kỳ dị, bị người đời xa lánh. Vào năm 1922, Chủ tịch hãng phim Universal – Carl Laemmle, tình cờ đọc được tiểu thuyết The Phantom of the Opera, ông đã quyết định tái hiện câu chuyện trên màn ảnh và nhanh chóng gây được tiếng vang lớn. Đó là phiên bản điện ảnh đầu tiên của Phantom. Vào năm 1984, The Phantom Of The Opera được tái hiện trên sân khấu bởi một nhà soạn kịch người Anh, và Andrew Lloyd Webber đã có mặt ở hàng ghế khán giả trong vở kịch ấy. Ít lâu sau, Lloyd Webber đã tìm thấy cuốn tiểu thuyết trong một hiệu sách cũ. Điều mà ông nhận ra được chính là một nỗi niềm nghẹn ngào của một tình yêu chìm sâu trong vô vọng của một trái tim bị thương tổn và chối từ. Ngay lập tức, Lloyd Webber đã dựng lại vở nhạc kịch The Phantom Of The Opera với những bản nhạc vô cùng nổi tiếng khắp thế giới và được lưu diễn nhiều lần. Nhưng ấn tượng nhất chính là vở nhạc kịch cho chính người vợ Lloyd Webber, nữ ca sĩ dòng nhạc cổ điển Sarah Brightman và Michael Crawford trong vai Christine và Phantom. Các bản nhạc như Phantom of the night, Think of me, Music of the night, All I ask of you,… đã nổi tiếng không chỉ trong các nhà hát thính phòng hay các sân khấu lớn, mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến nền âm nhạc đại chúng. Và bộ phim phiên bản 2004 của hãng Warner Bros chính là lấy cảm hứng từ vở nhạc kịch của ông.

Bóng ma trong Nhà hát

Phantom of the Opera dẫn khán giả khám phá mê cung âm nhạc của Phantom theo từng bậc thang kỳ ảo trên bài hát chính cùng tên. Khúc dạo đầu nhuốm màu kỳ bí, dồn dập, hoảng sợ, rồi vỡ òa trong bóng tối nỗi lòng của một con người cô đơn phải sống nơi tầng hầm, người chỉ có thể hiện hữu trong giấc ngủ của nàng Christine cùng giọng ca của thiên sứ. All I ask of you, nàng Christine xinh đẹp đã hát bản nhạc mà Phantom viết cho nàng để thể hiện tình yêu thuần khiết dành cho Raoul, Phantom biết được và đã gào thét tức giận như một quái vật bị trọng thương. Nhưng cho đến phút cuối, khi trên sân khấu, trước hàng nghìn khán giả, Phatom đã hát Point of no return với niềm ai oán, khổ sở khi ngỏ lời tình yêu với Christine, nhưng sau cùng, trái tim anh lại một lần nữa tan ra hàng trăm mảnh bởi Christine vẫn không thể chấp nhận anh. Ẩn sâu dưới lớp áo choàng đen kia là một thân phận bị vùi lấp. Chỉ khi màn đêm buông xuống, đó là khi Music of the night bầu bạn cùng bóng ma, anh xuất hiện trong chiếc mặt nạ che kín gương mặt, cùng tình yêu trầm lắng dịu dàng cất cánh cho niềm hi vọng mong manh trong anh. Màu đêm dịu dàng hòa quyện với vẻ đẹp âm nhạc đã biến Phantom trở thành một người đàn ông lịch lãm, quyến rũ và tự thân anh có sức mạnh không thể đánh bại.

The Phantom Of The Opera (2004) với hai diễn viên chính Gerard Butler và Emmy Rossum không phải là bộ phim điện ảnh quá xuất sắc ở thể loại âm nhạc. Âm nhạc trong phim do chính các diễn viên thể hiện có thể nói là đã chiếm 50% yếu tố quyết định thành công của phim. Nhưng dẫu cho phần âm nhạc có được thể hiện hoàn chỉnh cỡ nào thì phần diễn xuất bình thường vẫn không thể nâng tầm bộ phim lên được. Thông thường, một bộ phim âm nhạc phải đảm đương nhiều trọng trách nặng nề so với các phim thông thường, diễn xuất, giọng hát cần kết hợp nhuần nhuyễn để không tạo ra một giây phút dư thừa và trật nhịp nào. Vừa phải giữ được cho khuôn miệng hoạt động đúng với tinh thần bài hát, nhịp phách hài hòa, nhưng vẫn phải vừa vặn với gương mặt biểu cảm đang lột tả cảm xúc. Nhưng dường như đó là chiếc áo quá lớn với dàn diễn viên chính. Thêm một trở ngại khác của phiên bản điện ảnh năm 2004 này, chính là bộ phim được tái hiện trên màn ảnh rộng từ một vở kịch đã quá quen thuộc với khán giả khắp mọi nơi, thậm chí là đối với những quốc gia chưa từng được đoàn kịch của Lloyd Webber ghé thăm lưu diễn. Việc mô phỏng lại một vở kịch lớn nhưng với dàn diễn xuất vẫn còn non kinh nghiệm với thể loại phim âm nhạc đã khiến cho The Phantom Of The Opera (2004) không tạo ra được làn sóng yêu thích rầm rộ như dự đoán của ekip làm ra nó. Giọng hát trong vắt tựa pha lê của Emmy Rossum, giọng ca nhẹ nhàng ấm áp của Patrick Wilson hay giọng ca hào sảng, cuồn cuộn tức giận của Gerard Butler chính là tài sản lớn nhất của bộ phim, bên cạnh phần phục dựng sân khấu hoành tráng, cùng các khung hình diễm lệ của Nhà hát Opera và thủ đô Paris lộng lẫy.

Tuy không phải là một bộ phim đáng nhớ, nhưng thủ pháp tỉnh lược và cách kết nối khéo léo các cảnh cắt chính đã giúp phim được đón nhận ở thời điểm ra mắt. Mặt khác, The Phantom Of The Opera lại không có nhiều thoại nói, nhằm để tôn vinh tối đa phần âm nhạc và biểu diễn. Chính điều đó đã giúp người xem không nhận ra quá nhiều hạn chế diễn xuất ở dàn diễn viên. Còn nếu buộc tôi phải chọn ra một vai diễn nào để lại dấu ấn, thì có lẽ đó là vai Phantom của Gerard Butler. Đó là khi anh run rẩy và sợ hãi khi bị chính Christine gỡ chiếc mặt nạ trên sân khấu, người khác đã nhìn thấy gương mặt thật sự của anh, ghê sợ và hùng hồn truy bắt anh xuống tận hầm sâu. Dù chạy trốn khỏi đám đông nhưng anh vẫn không thể chạy trốn khỏi nỗi sợ của chính mình. Phantom cuối cùng cũng đã hiểu rằng, nếu không được ở bên cạnh tình yêu của nàng, Christine cũng sẽ không thể thăng hoa trong âm nhạc nữa, cuộc đấu tranh nội tâm gây ra sức phản kháng mạnh mẽ trong Phantom, giữa việc chiếm hữu người đẹp và trả lại tự do cho nàng. Điều đó đã khoét sâu trong lòng Phantom một vết thương sâu hoắm, tình yêu, âm nhạc đã theo anh vùi sâu trong bóng tối vĩnh viễn.

bóng ma nhà hát

Với vai diễn Phantom, một nhân vật chiếm nhiều cảm xúc tiếc nuối và đồng cảm trong văn chương lẫn trên sân khấu, tôi nghĩ rằng Butler hẳn là đã có một cơ hội tốt trong sự nghiệp diễn xuất của mình, nhưng đáng tiếc là anh vẫn chưa thể lột tả sâu sắc sự tức giận đang xâu xé anh từng ngày, cùng với vẻ đáng thương ẩn sau hình dáng đạo mạo không bao giờ quy phục.

The Phantom Of The Opera của đạo diễn Joel Schumacher phần nào đưa người xem bước vào một thế giới bị lãng quên, tách biệt hoàn toàn với những hình ảnh phù phiếm từ cuộc sống giải trí của Paris. Đó là vương quốc bí mật của Phantom, nơi mà chúng ta chỉ có thể nhắm mắt để thả mình vào bóng đêm, để những bản nhạc huyền ảo thấm vào tâm hồn, lặng lẽ nhìn thấy một mối tình vĩnh cửu chìm trong vô vọng

Tổng kết

Âm nhạc hoàn chỉnh, phục cảnh bắt mắt, nhưng The Phantom Of The Opera chưa phải là một bộ phim hoàn hảo, thiếu sót lớn nhất chính là diễn xuất nội tâm của nhân vật.
7.5

Khá

Quên mật khẩu

Đăng Ký