When Marnie Was There (2015) Sẽ Không Cô Đơn, Vì Marnie Ở Đó

Bình Luận Phim Phim Xuất Sắc Oscar 2016 Phim Đương Đại Toàn Bộ Phim

Như nhiều khán giả khác ở Châu Á và thế giới, tôi yêu gần như tất cả mọi bộ phim từ Studio Ghibli. Nhưng khác với phần lớn người xem đã gắn bó với hãng hoạt hình Nhật Bản từ tấm bé, để có thể nói rằng Ghibli là tuổi thơ họ, tôi không có may mắn ấy. Tôi chỉ bắt đầu thưởng thức các phim của hãng từ năm 2012 với Spirited Away, trước khi tìm kiếm các phim còn lại. Nhưng luôn là cảm giác quen thuộc kỳ lạ này mỗi khi những khung hình vẽ tay mộc mạc ấy hiện lên, rằng tôi đang bắt gặp lại phần tuổi thơ nào đó đã mất của chính mình.

When Marnie Was There, bộ phim cuối cùng của Studio Ghibli trước khi tạm đóng cửa, chạm vào tôi theo cách một kỷ niệm dấu yêu thơ ấu chạm vào tôi. Không chủ đích và có lẽ không ai mong muốn, nhưng bộ phim lại giống như một lời chia tay tuyệt đẹp Ghibli gửi đến các khán giả trung thành. Nó chứa đựng những điều đẹp đẽ quen thuộc của Ghibli, nó kể một câu chuyện đậm chất Ghibli, nó mang âm hưởng trong trẻo và sâu lắng đã trở thành kho báu không thể tìm thấy ở nơi nào khác ngoài Ghibli.

Dựa trên quyển sách cùng tên của tác giả Joan G. Robinson, chuyện phim kể Anna Sasaki, một cô bé cô độc sống chung với gia đình người dì, những người nhận nuôi cô sau khi bố mẹ qua đời vì tai nạn. Anna mắc chứng hen suyễn, và người dì nghe lời bác sĩ khuyên đã gửi cô bé đến nghỉ tại nhà cô chú ở miền quê. Ở đó, cô gặp gỡ một người bạn kỳ lạ là Marnie, cô bé tóc vàng sống ở ngôi biệt thự nằm giữa đầm lầy hoang vắng. Marnie trở thành người bạn thân thiết bí mật của Anna, và thường dùng thuyền đón cô đến nhà chơi mỗi khi thủy triều lên. Mọi thứ đều tốt đẹp cho đến khi Anna, và cả chúng ta, nhận ra rằng Marnie dường như không có thật.

when-marnie-was-there-2

Với tôi, và có lẽ nhiều người khác, chất huyền hoặc của Marnie không phải điều gì quá mới mẻ hay thú vị. Cũng như mọi thứ chất liệu khác được đạo diễn Hiromasa Yonebayashi, người chỉ đạo The Secret World Of Arriety năm 2012, giăng ra suốt con đường. Yonabayashi có thể là một học trò giỏi của Miyazaki, khi khơi gợi và tạo nên không khí mộng mơ theo đúng công thức thường thấy của người thầy. Làng quê nơi Anna ghé thăm giống hệt những làng quê mà Miyazaki từng tạo nên trước đó, với cùng vẻ bình yên và đẹp đẽ gợi tưởng tượng như trong My Neighbour Totoro, với những thảm cỏ xanh mướt cạnh bờ biển để đặt những bức họa như The Wind Rises, và dĩ nhiên các khu vực huyền bí như ngôi nhà lạ, những tháp cổ cao vút… nơi câu chuyện diễn ra. Đó là ngôi làng trong mọi giấc mơ mà Ghibli đã đưa chúng ta đến, bằng những khung hình vẽ tay đầy màu sắc ngày càng trở nên quí giá hơn. Không thể nói được tôi cảm thấy dễ chịu đến thế nào khi được nhìn ngắm chúng, một lần nữa và có thể là lần cuối cùng. Có những sự lặp lại về cách thể hiện nhân vật, cách cài cắm chi tiết, cách biến những khung cảnh và trường đoạn trở nên lộng lẫy hơi thiếu tự nhiên. Nhưng chúng ta sẽ bỏ qua cho Yonabayashi, nếu ông vẫn niệm ra được thứ phép màu cảm xúc của Ghibli – điều khiến sau mỗi bộ phim của họ, thế giới quanh ta không còn như cũ nữa.

When Marnie Was There làm được điều đó đối với tôi. Chính xác hơn, bộ phim đã tác động đến tôi mạnh mẽ một cách không ngờ đến. Dù dễ dàng đoán được Marnie là ai ở giữa bộ phim, nhưng chính lúc đó bắt đầu trong tôi một cơn xúc động dài. Đây hoàn toàn là trải nghiệm cá nhân, có những yếu tố trong Marnie dễ dàng khiến trái tim tôi rung động sẽ không đúng với phần lớn mọi người. Như là về nỗi cô đơn của những đứa trẻ, một trong những ký ức thất lạc tôi chưa hề trải qua nhưng luôn hiện diện. Marnie là bộ phim dễ chạm đến nhất những đứa trẻ, hay người lớn từng là những đứa trẻ luôn “đứng ngoài rìa cuộc sống”, như lời bài hát “Fine On The Outside” của Priscilla Ahn vang lên ở cuối phim. Và  mong mỏi đến tuyệt vọng có được một người bạn, một tâm hồn để sẻ chia.

Không có ngôn từ nào diễn tả được sự thân quen tôi cảm thấy ở những buổi đêm hai đứa trẻ trải qua cùng nhau, dưới ánh trăng. Và nỗi đau từ cuộc đời Marnie, ở đó, trong căn phòng lộng lẫy xa hoa cách những bữa tiệc rộn ràng và ngập đầy ánh sáng chỉ vài bước chân. Bao nhiêu đêm cô bé ở một mình và nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi chỉ có đầm lầy tối đen vô tận, ao ước Anna sẽ xuất hiện? Đó không chỉ là tình cảm gia đình, dẫu sợi dây kết nối này mạnh mẽ hơn tất cả, mà là tình bạn thuần khiết giữa những tâm hồn cô đơn. Nỗi cô đơn cũng có thể là sợi dây kết nối, tương tự với tình yêu.

when-marnie-was-there-3

Vẻ đẹp của Marnie còn ở chỗ, giống như trong bộ phim Eternal Sunshine mà tôi yêu mến, miêu tả tình yêu có thể trở thành một linh hồn riêng biệt. Vì sao Clementine trong ký ức của Joel có thể kết nối đôi tình nhân thật sự đến Montauk lạnh giá? Ở đây, trong không gian liêu trai xuất sắc của câu chuyện gốc, tình yêu trở thành một bóng ma. Như câu trích dẫn nổi tiếng của David Foster Wallace: “Mọi chuyện tình vĩ đại nhất đều là những câu chuyện ma”, tình yêu của Marnie đã trở thành một linh hồn vượt thời gian và vượt cả cái chết, tìm đến xoa dịu cho Anna. Linh hồn đó đã mời Anna đến ngôi nhà mình và trải qua một thời thơ ấu khác. Marnie mang đến cho Anna niềm vui và nụ cười. Anna mang đến cho Marnie sự chở che. Những đứa trẻ cùng nâng đỡ nhau vượt qua và sống tiếp trong một thế giới xa lạ và u buồn.

When Marnie Was There có được một trong những cảnh chia ly cảm động nhất tôi từng xem, không hiểu sao lại gợi đến cảnh tương tự trong My Beautiful Girl Mari, một phim hoạt hình trưởng thành từ Hàn Quốc. Đó là lần cuối Marnie gặp Annie từ cửa sổ phòng mình, cô thốt lên “mình không có ý để cậu ở lại một mình” và xin Anna tha thứ. Một cảnh phim đẹp biết chừng nào, với hình ảnh, âm nhạc và cảm xúc hòa quyện tuyệt vời. Đó không phải là Marnie 10 tuổi đang nói, đó là Marnie của những lời hát ru. Rất khó khăn khi là kẻ bị bỏ rơi, có phải không? Nhưng là người buộc phải rời bỏ người mình yêu thương nhất, cũng nào có dễ dàng? Chúng ta biết được nỗi lòng không chỉ người ở lại, mà cả của người ra đi, trong một khoảnh khắc lấy nước mắt.

Tôi biết mình sẽ tìm đọc quyển sách do Joan G. Robinson viết, nhưng ngay cả đặt trong sự xuất sắc của câu chuyện gốc, vẫn không thể phủ nhận tài năng của Yonabayashi. Ông biến nó trở thành một “phim Ghibli” thuần chất, với không khí Ghibli quen thuộc, mà vẫn truyền tải được các thông điệp và cảm xúc có phần Tây Phương hơn. Tôi khá ngạc nhiên khi biết Marnie nhận đề cử Oscar 2016 cho hạng mục Phim hoạt hình, bởi các giá trị có phần cá nhân này hiếm khi được Oscar công nhận. Chắc chắn Marnie sẽ không chiến thắng, nhưng không quan trọng lắm. Không có chiến thắng nào cao quí hơn đối với một bộ phim bằng chiến thắng một nơi chốn trong trái tim người xem. Ít nhất, Marnie đã có tôi.

when marnie was there 1

Không có gì nhiều hơn nữa để viết về When Marnie Was There. Có những tác phẩm tôi không thể dùng cả lời nói lẫn chữ viết để diễn tả, và mọi nỗ lực đều chỉ khiến mọi thứ càng đi xa khỏi điều tôi cảm thấy và trở nên tầm thường. Như làm sao chúng ta diễn tả về tình yêu, hay những phần sâu kín nhất trong tâm hồn? Làm sao chúng ta diễn tả một cảm xúc thoáng qua trong tiềm thức hay trong ký ức tuổi thơ? Làm sao chúng ta diễn tả được điều gì đang xảy ra trong tâm trí, khi chính chúng ta còn không thấu hiểu? Ngôn từ chưa thể có sức mạnh đó. Tôi không có sức mạnh đó.

Điều an ủi là, tôi hẳn sẽ nuối tiếc nhưng sẽ không đau lòng nhiều, nếu Studio Ghibli vĩnh viễn không bao giờ quay lại. Chính những bộ phim Ghibli giúp tôi hiểu rằng không có điều gì tồn tại mãi mãi, trừ những lời tạm biệt. Và When Marnie Was There chính là lời tạm biệt trọn vẹn và đủ đầy nhất từ hãng phim kỳ diệu này, thân thương ngay từ tên gọi “Ghibli”. Tôi, và hẳn rất nhiều người khác, sẽ muốn nói với họ lời mà Anna nói với Marnie: “Tớ sẽ không bao giờ quên cậu.”

Tổng kết

Viên ngọc quí cuối cùng của Studio Ghibli, vẫn tỏa ra đầy đủ ánh sáng diệu kỳ của nó.
10

Hoàn Hảo

Quên mật khẩu

Đăng Ký