Yêu (2015) Chưa Thoát Khỏi Lối Mòn

Bình Luận Phim Phim Chiếu Rạp

Một trong những vấn đề lớn nhất phim Việt hiện nay là cách kể chuyện. Nhất là từ những đạo diễn có xuất thân từ âm nhạc, chính xác hơn, đạo diễn các MV ca nhạc. Như Quang Huy với hai bộ phim Thần TượngChàng Trai Năm Ấy. Và với Yêu là Việt Max, vốn là một biên đạo nhảy nhưng có kinh nghiệm qua các sản phẩm nhạc, trước khi quyết định thử sức với bộ phim về đồng tính nữ Yêu.

Điểm chung, và cũng là điểm yếu của họ, nằm ở lối tư duy hình ảnh. Cách để xây dựng cốt truyện của MV rất khác với phim điện ảnh, cách dẫn dắt cảm xúc khác, và lối dựng phim, chuyển cảnh, đa phần là khác. Chúng ta dễ dàng nhận ra khi đặt phim của Quang Huy bên cạnh phim của Victor Vũ hay Charlie Nguyễn. Huy thường sử dụng các cắt cảnh lồng âm nhạc để diễn tả cảm xúc, xây dựng lớp nền cho các nhân vật. Và kết thúc một phân đoạn là hiệu ứng fade out lặp đi lặp lại, thiếu tính liên kết. Cũng như luôn gặp khó khăn trong việc tạo ra và đẩy kịch tính.

Có một khoảng cách giữa đạo diễn âm nhạc và đạo diễn điện ảnh chính thống, mà không thể dùng các góc quay lộng lẫy để san lấp. Giống như hai thứ ngôn ngữ khác nhau được nói cùng một lúc, sẽ bị rối loạn.

Yêu chính xác đi vào vết xe đó. Tôi hơi khó hiểu là đoàn làm phim không muốn sử dụng từ “đồng tính nữ” khi quảng bá, trong khi sử dụng bộ đôi Chi Pu và Gil Lê vốn đang dính tin đồn yêu đương. Và trong trailer được làm rất tệ (khá dài dòng và kể lể hết nội dung chính) chất đồng tính nữ rõ ràng như mặt trời. Hoặc có thể họ chỉ muốn đơn thuần nói về “tình yêu”, với các thông điệp không mới về thế nào là tình yêu đích thực, về sự sẻ chia nỗi đau, về tình cảm gia đình… Không mới nhưng vẫn sẽ hay nếu biết làm đúng cách.

Đồng tính nữ vẫn là chủ đề khá khiêm tốn trên màn ảnh Việt, ít ỏi hơn nhiều so với đồng tính nam. Không phải vì thiếu chủ đề khai thác, mà quá thiếu người có điều kiện và khả năng để khai thác. Các đạo diễn nam thường là người trong giới, hoặc tiếp xúc nhiều với đồng tính nam, để hiểu tâm tư của họ. Trong khi khá thiếu hụt đạo diễn nữ. Chọn đề tài này để chào sân, đó là sự dũng cảm của Việt Max – tất nhiên, anh đã khôn ngoan khi lựa chọn Chi Pu và Gil Lê, bỏ qua các hiệu ứng truyền thông, thì bộ đôi này có khả năng “diễn như không diễn”, hay đóng vai chính con người họ. Với tôi, đó là lợi thế hơn là yếu thế.

Nhưng Yêu, dù có vài điểm sáng, thì vẫn khó có thể gọi là phim hay hoặc tinh tế. Đặc biệt là tinh tế. Bởi sự vụng về thấy rõ ở nhiều khía cạnh. Ở cảnh đầu tiên, Việt Max sử dụng một góc quay theo dấu (tracking) khá ổn về kỹ thuật, nhưng thiếu tự nhiên về sắp đặt. Người mẹ mỉm cười liên tục, người nhân công di chuyển cứng nhắc, những người mua hàng đều là người trẻ và gượng gạo. Không phải vấn đề lớn, nhưng là khái quát cho những gì diễn ra sau đó. Là sự thiếu tự nhiên ở tình tiết, cảm xúc, các cảnh cao trào, ở cách dẫn truyện, dẫn đến việc thiếu sự chân thực.

Luôn là vấn đề ở phần kịch bản, giống như 49 Ngày Yêu, Yêu không hề biết tiết chế tính bi kịch. Ranh giới giữa xúc động và mệt mỏi ở các cảnh bi là rất mong manh. Ít mà hiệu quả còn hơn là nhiều nhưng nhạt nhẽo, dù vậy, các nhà biên kịch trong nước thường thích quá tay quá trớn. Để khai thác được nỗi đau mất mát người thân và ám ảnh nhiều năm trời, cần cả một bộ phim. Để khai thác căn bệnh ung thư và sự bi thương nó mang lại cho gia đình, cần cả một bộ phim. Mối quan hệ tay ba với yếu tố đồng tính nữ, là một bộ phim khác. Đạo diễn hoặc biên kịch giỏi là người biết sức họ có thể khai thác đến đâu.

Khi xem những bộ phim như Yêu, tôi luôn có cảm giác các nhà làm phim quá xem nhẹ quá trình xây dựng nhân vật. Họ chỉ muốn đẩy nhanh đến cao trào. Hầu hết đều được xử lý bằng cách đoạn MV mini không có chất điện ảnh. Trong khi tạo ra được một nhân vật với tính cách nhất quán, và đặc biệt, các phản ứng tâm lý hợp lý, là việc khó nhất trên đời. Vì sao nhân vật của Chi Pu ngày bé lại từ chối gặp bạn? Nó không có gốc rễ từ tâm lý nào, ngoài việc dẫn đến một cảnh khóc lóc. Trong phim, tôi luôn thấy hai nhân vật chính to tiếng và tránh né nhau, với các lý do không thuyết phục. Kể cả nhân vật phụ do Quang Sự đóng. Không phải cứ bất thình lình to tiếng là tạo ra được áp lực tâm lý. Kịch tích được xây trên những lớp nền không vững thì khó mượt mà. Và nói thật rằng, việc cứ dùng hoài những mô típ nghiêm trọng quá mức (về cái chết) nhưng thiếu chiều sâu đã trở nên nhàm chán.

Yêu có được vài góc quay đẹp, và sáng tạo. Cảnh mẹ của Tú khóc trong căn phòng quay từ trên xuống theo phương ngang khá lạ, thể hiện tâm lý bất ổn của nhân vật. Nụ hôn trong mưa hay cảnh slow motion của Tú (có một cảnh tương tự trong Hoa Vàng) cũng khá chỉn chu. Ngược lại, các cảnh flycame thì chất lượng quá tệ, dù ý tưởng tốt. Tôi nghĩ rằng nếu không đảm bảo được mặt hình ảnh, các đạo diễn nên cắt bỏ luôn flycam để phim được đồng nhất. Nhưng các sáng tạo này chỉ rải rác, và không hề được dùng đều đặn. Giá như Việt Max đầu tư chúng cho lối chuyển cảnh thì sẽ hợp lý hơn. Đáng chê trách nhất là phần lồng tiếng, do sử dụng diễn viên ở cả hai miền Nam Bắc. Với hệ thống âm thanh trong rạp, chúng ta có thể nghe thấy rõ những đoạn noise lúc còn lúc mất khá khó chịu. Và như mọi khi, đã chấp nhận lồng tiếng thì sẽ phải chấp nhận việc chất giọng không phù hợp với khẩu hình, cũng như cảm xúc nhân vật.

Trong một tác phẩm khó gọi là dễ dãi, và có nhiều phân đoạn đòi hỏi nhập tâm, các diễn viên đã có nhiều nỗ lực trong vai diễn của họ. Tôi thích Gil Lê trong phim này, diễn xuất ra được nhân vật. Tôi thích ánh mắt của cô nhìn người bạn gái dưới cơn mưa tầm tã. Trong một cảnh khác, Tú ngồi trong căn phòng, ôm con thỏ bông, bóng tối đổ dài phía sau lưng. Đó là cảnh hiếm hoi mang nhiều ngôn ngữ điện ảnh nhất. Chi Pu hay Phở Đặc Biệt không quá bứt phá so với hình tượng thường thấy. B Trần thì quá mờ nhạt với lối diễn và ngoại hình hao hao Sơn Tùng M-TP. Ngoài ra, Việt Max cũng không kết hợp được các diễn viên trẻ với những người gạo cội như NSƯT Chiều Xuân. Tôi vẫn cảm thấy sự phân biệt giữa hai thế hệ, với hai lối diễn xuất không hòa hợp, không chung bầu không khí.

Còn về thông điệp? Vẫn thể hiện theo lối mòn xưa cũ là bằng các câu thoại trang trọng hóa, không mấy chạm đến tôi. Bởi bản thân chúng không có gì mới, không sâu sắc, ít nhất theo cách mà Yêu thể hiện. Không có đấu tranh hay chuyển biến tâm lý phức tạp, mà đơn giản vì vài lời nói của nhân vật khác, như thế là không đủ. Câu chuyện về tình yêu, hay đồng tính nữ trong phim, lại xuất phát từ một tình huống khó đồng cảm. Về một cô gái bị buộc phải trở thành con trai để thỏa mãn ước vọng người cha, và mắc kẹt trong đó. Nó buộc ta phải tự hỏi liệu tình yêu đó có là thật, hay đúng như người mẹ nói, chỉ là nhầm tưởng. Và trên hết, nó không gần gũi.

Tôi nhớ từng ngồi với một người bạn tôi rất quý trong một quán café, vào một buổi chiều mưa. Cô kể cho tôi nghe về tình yêu của cô, mà trước lúc đó, tôi không biết là một cô gái. Không có gì quá to tát như ung thư hay cái chết, nhưng những nỗi đau là thật. Về những sóng gió hai bạn phải vượt qua từ gia đình hai bên. Từ những thứ rất nhỏ như vực nhau dậy để sống tiếp, để bảo vệ nhau, để được có nhau. Về việc cả hai phải tự học cách để mạnh mẽ, chỉ bằng các chi tiết quan tâm giản dị trong cuộc sống. Và tôi xúc động. Cuộc sống thật luôn nhẹ nhàng hơn, về tình tiết, nhưng phức tạp hơn về cảm xúc. Tôi nghĩ rằng chỉ cần truyền tải được 30% những gì trong câu chuyện đó, một cách thật sự tinh tế, sẽ ra một phim hay. Giá như có thể, nhưng Yêu chưa đạt được con số 30% này.

Nhưng có lẽ, đây sẽ là bộ phim dễ xem hơn hẳn nhiều phim Việt khác. Không có quá nhiều tham vọng về một chuyện tình day dứt, khắc khoải, như các nhà làm phim độc lập, Việt Max chỉ muốn tạo ra một phim teen dễ xem, âm nhạc dễ nghe (cùng người làm nhạc với Hoa Vàng là Christopher Wong, nhưng anh chỉ phối lại các bài hát có sẵn, chứ không sáng tác nhạc nền) với các ngôi sao thị trường, mà không quá thị trường. Không xuất sắc, nhưng ít nhất thì anh đã làm được.

Tổng kết

Không có nhiều điểm sáng so với các phim Việt khác, nhưng lặp lại những điểm yếu cũ của chúng.
5.5

Trung Bình

Quên mật khẩu

Đăng Ký